Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn học, nghệ thuật. Hoàn thành cơ bản việc thể chế hóa các quan điểm, đường lối, định hướng của Ðảng về văn học, nghệ thuật.
Xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển dài hạn các lĩnh vực văn học, nghệ thuật; rà soát, bổ sung và xây dựng mới các chế độ, chính sách đối với hoạt động văn học, nghệ thuật, như chế độ lương, nhuận bút, đãi ngộ tài năng, bồi dưỡng lao động nghề nghiệp, chế độ hưu.
Xây dựng và thực hiện có hiệu quả kế hoạch xã hội hóa các hoạt động văn học, nghệ thuật, làm rõ các lĩnh vực cần xã hội hóa, lĩnh vực Nhà nước và nhân dân cùng làm, lĩnh vực Nhà nước phải đầu tư bảo tồn, xây dựng và phát triển. Tăng mức đầu tư cho văn học, nghệ thuật; bảo đảm kinh phí cho các chương trình mục tiêu lớn, cho hoạt động sáng tạo của các hội văn học, nghệ thuật, xác định việc đầu tư này là đầu tư cho phát triển.
Xây dựng đề án và cơ chế bảo tồn, truyền bá các loại hình văn học, nghệ thuật cổ truyền; có chính sách đặc biệt hỗ trợ sự phát triển của ngôn ngữ, chữ viết và văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Có kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, nghệ thuật; nâng cấp, cải tạo và xây mới một số nhà hát, rạp chiếu phim, trung tâm triển lãm văn học, nghệ thuật có chất lượng cao, tầm cỡ lớn, tính chất hiện đại ở các thành phố, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của đất nước.
Nâng cao chất lượng các trường đào tạo văn học, nghệ thuật, hoàn thiện chương trình mới, giáo trình các trường cao đẳng, đại học, giảng dạy các ngành đào tạo văn học, nghệ thuật (sáng tác nghiên cứu lý luận, phê bình, biểu diễn, chỉ huy, đạo diễn...). Rà soát bổ sung các chế độ chính sách đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng văn nghệ sĩ đáp ứng đào tạo đặc thù trong lĩnh vực này...
Trên cơ sở đó, Ban Chỉ đạo Trung ương chỉ đạo xây dựng năm đề án để thực hiện đó là:
Ðề án 1: "Xây dựng và rà soát các chế độ chính sách đối với các hoạt động văn học, nghệ thuật và văn nghệ sĩ, chế độ tài trợ đặt hàng đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật; chính sách khuyến khích sáng tác trong các hoạt động văn học, nghệ thuật".
Ðề án 2: "Xây dựng chính sách thẩm định, quảng bá, thuế ưu đãi... đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong nước, văn hóa phẩm của Việt Nam đưa ra nước ngoài và giới thiệu tinh hoa văn học, nghệ thuật của thế giới vào Việt Nam; chính sách sưu tầm chỉnh lý, bảo tồn, phát huy, quảng bá di sản văn học, nghệ thuật dân tộc và phát triển văn học, nghệ thuật quần chúng".
Ðề án 3: "Ðổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường văn hóa, nghệ thuật giai đoạn 2011 - 2020".
Ðề án 4: "Trên cơ sở quy hoạch và rà soát lại các công trình hiện có, xây dựng kế hoạch nâng cấp, xây mới các công trình văn hóa (nhà hát, rạp chiếu phim, nhà triển lãm) từ năm 2010 - 2020".
Ðề án 5: "Xây dựng nghị định hướng dẫn thi hành luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ".
Ba đề án 1, 2, 3 được Chính phủ phê duyệt năm 2011, đề án 4, Chính phủ phê duyệt tháng 1-2013. Ðề án 5 được Chính phủ phê duyệt và ban hành Nghị định số 85/2011/NÐ-CP ngày 20-9-2011.
Ðến nay, trong năm đề án thì mới có Ðề án 5 được thể chế bằng một nghị định hướng dẫn thi hành luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Còn bốn đề án mới được Chính phủ phê duyệt và cần phải được thể chế hóa bằng việc xây dựng và ban hành hơn 30 cơ chế, chính sách cụ thể. Do đó chỉ riêng thể chế hóa một phần của chủ trương, giải pháp thứ 3 của Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị mà hơn sáu năm mới thể chế hóa được 1/5 số đề án.
Vì sao việc thể chế hóa một nghị quyết về phát triển văn học, nghệ thuật lại quá chậm như vậy? Qua tìm hiểu bước đầu, chúng tôi thấy rất đồng tình với các nhận định nguyên nhân của những hạn chế yếu kém của văn hóa mà Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI chỉ ra: "Chủ yếu do nhiều cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đầy đủ đến lĩnh vực này, lãnh đạo chỉ đạo chưa thật quyết liệt. Việc cụ thể hóa thể chế hóa của Ðảng còn chậm, thiếu đồng bộ và trong một số trường hợp thiếu khả thi. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới, có lúc, có nơi xem nhẹ, thậm chí buông lỏng, kỷ luật, kỷ cương không nghiêm. Ðầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải. Chưa nắm bắt kịp thời những vấn đề mới về văn hóa để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Chưa quan tâm đúng mức công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp".
Chúng tôi muốn nhấn mạnh bổ sung một số ý về sự chậm trễ trong việc thể chế hóa nghị quyết về văn học, nghệ thuật. Muốn thể chế hóa các quan điểm đường lối chủ trương phát triển văn học, nghệ thuật một lĩnh vực rất đặc thù và tinh tế của văn hóa đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, văn nghệ phải có một đội ngũ chuyên viên, chuyên gia cần thiết tập trung cho nhiệm vụ xây dựng các cơ chế chính sách cho xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật. Ðội ngũ này không chỉ có hiểu biết sâu sắc quan điểm đường lối văn hóa, văn nghệ của Ðảng, kiến thức pháp luật, có năng lực xây dựng các cơ chế chính sách văn hóa trong kinh tế, kinh tế trong văn hóa và bám sát thực tiễn của hoạt động văn hóa, văn nghệ... Tôi xin đưa ra một thí dụ: Năm 2000 ở nước ta có xây dựng một vài quỹ phát triển văn hóa. Nhà nước đưa vào quỹ này một khoản tiền, sau vài năm quỹ này tiêu hết và không còn lý do tồn tại; nay chỉ còn một hình thức hằng năm, Chính phủ hỗ trợ cho các hội văn học, nghệ thuật một khoản tiền từ ngân sách để các hội hỗ trợ cho các văn nghệ sĩ trong hoạt động sáng tác. Trong khi ở Hàn Quốc, họ cũng xây dựng một số quỹ phát triển văn học, nghệ thuật, nhà nước đầu tư vào quỹ này một khoản tiền ban đầu thôi còn cho quỹ này ba cơ chế: Xổ số kiến thiết, đua ngựa, vận động các tổ chức, cá nhân tài trợ cho sáng tác, biểu diễn văn học, nghệ thuật. Với ba cơ chế này, mỗi năm quỹ thu được gần 200 triệu USD.
Trên cơ sở quán triệt sâu sắc vai trò rất quan trọng và tinh tế của văn học, nghệ thuật, các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cần xây dựng được một đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện nhiệm vụ thể chế hóa Nghị quyết Trung ương 9 và Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị. 400 nghìn văn nghệ sĩ cả nước rất tin tưởng trong tương lai không xa được đón nhận hệ thống cơ chế, chính sách phục vụ cho sự nghiệp phát triển nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc với các đặc trưng dân tộc, nhân văn dân chủ, khoa học, góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.