Nâng cao chất lượng dịch vụ logistics

Theo Bộ Công thương, sự phát triển của ngành logistics ở nước ta trong thời gian qua đã có những đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế, mở rộng và phát triển thị trường quốc tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 3.000 doanh nghiệp (DN) hoạt động trong ngành dịch vụ logistics, trong đó khoảng 1.300 DN, chủ yếu là các DN vừa và nhỏ, tham gia tích cực vào thị trường trong nước và nước ngoài. Ngành dịch vụ logistics Việt Nam đang phát triển mạnh với tốc độ từ 15 đến 16%/năm.

Theo chỉ số đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), ngành logistics Việt Nam đứng thứ tư trong ASEAN, sau Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a và Thái-lan. Dù vậy, Việt Nam vẫn còn nhiều việc cần làm để nâng cao hiệu quả, mà bằng chứng là thứ hạng của Việt Nam trong Chỉ số hoạt động logistics (LPI) do WB đánh giá đã giảm từ vị trí 48 năm 2014 xuống vị trí 64 năm 2016.

Nhìn nhận thẳng thắn, ngành dịch vụ logistics Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, kéo dài từ nhiều năm nay vẫn chưa giải quyết được như công tác quy hoạch giữa các ngành liên quan vẫn chưa có sự kết nối chặt chẽ; cơ sở hạ tầng giao thông, thương mại, công nghệ thông tin còn yếu kém, chưa kết nối với các nước trong khu vực; nguồn nhân lực cho hoạt động logistics còn chưa đáp ứng được yêu cầu; nhất là năng lực cạnh tranh của các DN kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam còn chưa cao so với DN khu vực và thế giới. Các DN Việt Nam cung cấp chủ yếu các dịch vụ logistics nội địa, như dịch vụ vận tải nội địa, vận tải đa phương thức, dịch vụ cảng biển, cảng hàng không, dịch vụ kho bãi, khai báo Hải quan, giám định, kiểm nghiệm hàng hóa, bốc dỡ hàng hóa... và đảm nhận một phần dịch vụ logistics quốc tế qua làm đại lý cho các DN nước ngoài là các chủ hàng, chủ tàu, các nhà cung cấp dịch vụ logistics quốc tế thuê lại.

Hiệp hội DN dịch vụ logistics Việt Nam cho biết, chi phí logistics ở Việt Nam còn ở mức cao, tương đương 20,8% GDP (các nước phát triển chỉ từ 9 đến 14%), đóng góp khoảng 3% vào GDP. Tỷ lệ thuê ngoài khoảng 35 đến 40%, nguyên nhân chủ yếu là chưa có sự phối hợp, hợp tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ với các nhà sản xuất và xuất, nhập khẩu. Tổng chi phí logistics của Việt Nam năm 2016 là 41,26 tỷ USD, tương đương 20,8% GDP. Trong đó doanh thu của 100 công ty logistics hàng đầu Việt Nam năm 2016 là 8.74 tỷ USD, đạt tốc độ tăng trưởng 15,6%. Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam U.Ði-ôn nhận định, hoạt động logistics và kết nối hiệu quả là yếu tố quan trọng bảo đảm năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Logistics hiệu quả đặc biệt quan trọng đối với một nền kinh tế đang phụ thuộc nhiều vào khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và xuất khẩu như Việt Nam. Ðiều này sẽ giúp Việt Nam tăng năng suất để đạt được các mục tiêu phát triển to lớn hơn nữa.

Trên tinh thần đó, WB khuyến nghị Việt Nam cần vượt qua một số trở ngại lớn về thể chế, chính sách nhằm cải thiện hoạt động logistics thông qua việc giảm chi phí, nâng cao độ ổn định; cần có những giải pháp tập trung vào bốn nội dung chính: tăng cường tạo thuận lợi thương mại bằng cách đơn giản hóa thủ tục hải quan và quy định về quản lý chuyên ngành; nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở hạ tầng thương mại và chất lượng kết nối; xây dựng lĩnh vực dịch vụ logistics cạnh tranh; tăng cường phối hợp hoạt động đa ngành và hợp tác với tư nhân. Cả khu vực tư và công đều cần đóng góp cho việc cải thiện hoạt động của ngành logistics. Theo WB, Chính phủ cũng như khối kinh tế tư nhân cần có lộ trình rõ ràng về cải cách nếu muốn nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế phức tạp hơn. Sự tham gia của khối kinh tế tư nhân cũng rất quan trọng, vì phần lớn các dịch vụ logistics đều do DN tư nhân thực hiện.

Theo Báo cáo Logistics Việt Nam năm 2017 do Bộ Công thương vừa công bố, ngành logistics Việt Nam có tiềm năng lớn để tăng trưởng và hội nhập sâu rộng vào lĩnh vực logistics toàn cầu. Báo cáo kiến nghị trong năm 2018 cần tập trung hơn vào việc đẩy mạnh cải cách hành chính, giảm bớt hoặc đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan lĩnh vực logistics, đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư hạ tầng logistics quan trọng. Các cơ quan quản lý, hiệp hội và DN cũng cần quan tâm việc lồng ghép nhiệm vụ hội nhập và hợp tác trong khu vực vào quá trình mở cửa thị trường, mở rộng mạng lưới đào tạo, tăng cường tuyên truyền, thông tin, hoàn thiện khung thể chế và cơ chế quản lý nhà nước để phát triển ngành logistics…

Có thể bạn quan tâm