Hỏi: Thứ trưởng có thể cho biết tầm quan trọng của thị trường dệt may Hoa Kỳ đối với các nước, trong đó có Việt Nam? Tại sao Hoa Kỳ lại áp đặt hạn ngạch đối với hàng dệt may?
Trả lời: Là thị trường có nhu cầu tiêu thụ lớn về hàng dệt may (năm 2004 tiêu thụ 67,9 tỷ USD hàng dệt, 145 tỷ USD hàng may mặc, dự kiến con số tương ứng năm 2009 lên đến gần 72 tỷ USD và 176 tỷ USD), nên Hoa Kỳ đóng vai trò là một thị trường lớn nhập khẩu hàng dệt may của thế giới (năm 2003 nhập khẩu 82,8 tỷ USD, năm 2004 - 89,7 tỷ USD, chín tháng đầu năm 2005 - 72,7 tỷ USD).
Việc tăng nhập khẩu hàng dệt may từ các nước trên thế giới những năm gần đây có tác động đến ngành dệt may trong nước của Hoa Kỳ (trong 10 năm từ 1984 - 1994, ngành dệt có nhịp độ tăng trưởng 32,3%, ngành may mặc tăng trưởng 2,2%, trong khi đó từ tháng 1 đến 10-2005 ngành dệt lại giảm 22%, ngành may mặc giảm 51,7%, có 90 vạn lao động mất việc làm).
Để hạn chế xu thế tăng trưởng nhập khẩu hàng dệt may, Hoa Kỳ đã áp dụng hai chủ trương chính:
- Áp dụng chế độ hạn ngạch đối với hàng dệt may nhập khẩu cho 25 nước trước ngày 1-1-2005, với bốn nước còn lại (Nga, Ukraine, Việt Nam, Belarus) sau ngày 1-1-2005.
- Mặc cả với các nước thực hiện Hiệp định Thương mại tự do (Australia, Bahrain, Chile, Jordan, Israel, Ma-rốc, Singapore) để kiềm chế xuất khẩu hàng dệt may của các nước khác.
Hỏi: Xin Thứ trưởng cho biết yếu tố Trung Quốc trên thị trường xuất, nhập khẩu hàng dệt may của thế giới?
Trả lời: Trung Quốc là một quốc gia sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may lớn của thế giới (năm 2004 Trung Quốc xuất khẩu 95 tỷ USD, nhập khẩu gần 20 tỷ USD, xuất siêu trên 75 tỷ USD), do có lợi thế về chi phí thấp, tay nghề người lao động, năng suất lao động cao và tỷ lệ tự túc nguyên phụ liệu cao.
Xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc vào Hoa Kỳ trong mấy năm qua tăng mạnh (năm 2003 đạt 14,2 tỷ USD, năm 2004 đạt 17,8 tỷ USD, chín tháng đầu năm 2005 đạt 20,2 tỷ USD), trong đó có một số mặt hàng có số lượng xuất khẩu tăng đột biến như cat. 347/348 tăng hơn 10 lần, cat. 335/635 tăng 9,55 lần, cat. 338/339 tăng 8,4 lần.
Hỏi: Đánh giá của Thứ trưởng về kết quả xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2005 sang Hoa Kỳ?
Trả lời: Ước cả năm 2005, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đi tất cả các nước đạt khoảng 4,8 - 4,85 tỷ USD, tăng gần 10% so với năm 2004, trong đó các thị trường chính như: Hoa Kỳ ước đạt 2,626 tỷ USD, chiếm 54,1% tổng kim ngạch, tăng 6,1%; EU đạt khoảng 830 – 850 triệu USD, chiếm 17% tổng kim ngạch, tăng gần 12%; Nhật Bản đạt khoảng 614 – 630 triệu USD, chiếm 13% tổng kim ngạch, tăng khoảng 17% so với năm 2004.
Trong 25 mặt hàng xuất khẩu còn bị áp đặt hạn ngạch, theo tỷ lệ sử dụng hết hạn ngạch có thể phân thành ba nhóm như sau:
- Nhóm tám mặt hàng sử dụng hết hạn ngạch là các cat. 338/339, 340/640, 341/641,359/659 - S, 638/639,647/648 và 620.
- Nhóm bốn mặt hàng có tỷ lệ sử dụng hạn ngạch trên 80% là các cat. 334/335, 342, 642, 347/348 và 440.
- Nhóm 13 mặt hàng còn lại có tỷ lệ sự dụng hạn ngạch dưới 80%.
Có hai điểm đáng lưu ý trong xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ năm 2005 là nhịp độ tăng cao hơn và tỷ lệ sử dụng hạn ngạch cao hơn so với năm 2004 cụ thể:
- Năm 2005 xuất khẩu hầu hết các cat. (24/25 cat.) đều tăng so với năm 2004, trong đó tăng nhiều nhất là các cat 333 (1315%), cat. 447 (365%), cat. 620 (553%) và cat. 434 (499%);
- 5 cat. chủ yếu, chiếm khoảng 86% lượng hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ đều có tỷ lệ sử dụng hạn ngạch cao (cat. 338/339 chiếm 36,7% hạn ngạch, đạt tỷ lệ sử dụng 99,29%; cat. 347/348 chiếm 26,5% hạn ngạch, đạt tỷ lệ sử dụng 91,04%; cat. 647/648 chiếm 9,5% hạn ngạch, đạt tỷ lệ sử dụng 107,13%; cat. 340/640 chiếm 7,8% hạn ngạch, đạt tỷ lệ sử dụng 99,86% và cat. 638/648 chiếm 5,2% hạn ngạch, đạt tỷ lệ sử dụng 104,13%).
Như vậy, trong khi hàng xuất khẩu dệt may phi hạn ngạch sang Hoa Kỳ năm 2005 giảm 5,7% thì nhờ sự điều hành của Liên Bộ và nỗ lực phấn đấu của các doanh nghiệp hàng xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ theo hạn ngạch lại tăng khá tốt, đạt nhịp độ tăng trưởng 13,2% so với năm 2004.
Hỏi: Vậy thứ hạng của hàng dệt may Việt Nam trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ?
Trả lời: Xin đơn cử, những mặt hàng dệt may chủ lực của ta cũng mới chiếm thứ hạng hết sức khiêm tốn trên thị trường dệt may của Hoa Kỳ (số liệu trong chín tháng đầu năm 2005) cụ thể như sau:
- Cat. 338/339 (áo sơ mi bông nam, nữ): chỉ mới chiếm 3,8%, đứng sau: Honduras, Mexico, Guatemala, El Salvador, Trung Quốc và Pakistan.
Tương tự các Cat. 647/648 (quần sợi tổng hợp); Cat. 340/640 (áo sơmi nam); Cat. 638/639 (áo sơmi dệt sợi tổng hợp) cũng chỉ chiếm từ 1,8 đến 5%, và đứng sau nhiều nước.
Hỏi: Xin Thứ trưởng cho biết lượng hạn ngạch và cơ chế phân bổ hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ năm 2006 có gì mới?
Trả lời: Tổng số hạn ngạch hàng dệt may của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ năm 2005 chỉ khoảng hơn 1,6 tỷ USD trong khi ta có khoảng hơn 2.000 doanh nghiệp với công suất sản xuất và xuất khẩu khoảng 9 - 10 tỷ USD.
Về tổng thể, hạn ngạch hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ năm 2006 chỉ tăng khoảng 6 - 7% so với năm 2005.
Về cơ chế phân bổ hạn ngạch: Thông tư liên tịch của liên Bộ Thương mại – Công nghiệp số 18/2005/TTLT/BTM – CN ngày 21-10-2005 hướng dẫn giao và thực hiện hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ năm 2006 quy định: kể từ ngày 1-1 đến 30-6-2006 liên Bộ sẽ cấp visa tự động cho tất cả 25 chủng loại mặt hàng dệt may; trong thời gian đó nếu có chủng loại mặt hàng nào đạt tỷ lệ thực hiện khoảng 70% số lượng hạn ngạch cả năm 2006 thì liên Bộ sẽ phân giao hạn ngạch trên cơ sở thành tích xuất khẩu sáu tháng đầu năm 2006 và nhu cầu xuất khẩu của thương nhân; đến thời điểm 30-6-2006, những chủng loại mặt hàng chưa đạt đến mức 70% sẽ được tiếp tục cấp visa tự động; trường hợp cần thiết, liên Bộ sẽ có thể thông báo việc điều hành tiếp theo của các chủng loại đã đạt mức 90% số lượng hạn ngạch của chủng loại đó trong năm 2006. Tỷ trọng của hàng dệt may Việt Nam trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ trong cả năm 2005 còn quá khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 2,5 – 2,6% (2,626 tỷ USD /95 -100 tỷ USD). Cần khẳng định rằng, ngành dệt may tuy chiếm vị trí chủ lực trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, đứng vị trí thứ hai sau xuất khẩu dầu thô, nhưng chỉ mới đứng ở vị trí hết sức khiêm tốn trên thị trường dệt may thế giới.
Thương nhân có thể tự nguyện đăng ký ký quỹ/bảo lãnh đối với tất cả các chủng loại mặt hàng để đảm bảo số lượng hạn ngạch sẽ được sử dụng năm 2006. Trường hợp số lượng đăng ký ký quỹ/bảo lãnh vượt nguồn hạn ngạch, liên Bộ sẽ ưu tiên đảm bảo giao hạn ngạch cho các thương nhân có thành tích xuất khẩu sang Hoa Kỳ năm 2005 và hợp đồng ký với khách hàng lớn Hoa Kỳ.
Như vậy, qua Thông tư 18/2005/TTLT/BTM – CN và các cuộc tiếp xúc với cộng đồng doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ tháng 1-2006, có thể nói cơ chế điều hành hạn ngạch năm 2006 là hết sức rõ ràng, thông thoáng, tạo mọi điều kiện cho thương nhân chủ động trong việc ký kết hợp đồng cho các lô hàng năm 2006.
Nhân dịp đầu năm mới, một lần nữa tôi đề nghị các thương nhân cần theo dõi thường xuyên, cập nhật thông tin về điều hành cụ thể của liên Bộ có đăng trên trang Web của Bộ Thương mại www.mot.gov.vn để thực hiện kịp thời và hiệu quả.