Mường Khương chuyển dịch thành công cơ cấu kinh tế công nghiệp

Trưởng phòng Kinh tế huyện Mường Khương Phạm Bá Uyên đưa chúng tôi vượt gần 40 km, từ trung tâm huyện ra đến các thôn biên giới Pạc Bo, Na Lốc, Cốc Phương của xã Bản Lầu, gồm toàn đồng bào dân tộc Mông, Dao, Nùng sinh sống. Dọc hơn 20 km đường biên giới, trên những quả đồi thấp, ven rừng già là dứa giống Quy-en trải dài tít tắp. Ðang mùa đơm quả, cán bộ Trạm khuyến nông huyện xuống tận đồi dứa hướng dẫn đồng bào cách tỉa chồi, bón phân, dùng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý để quả dứa to, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Ðón chúng tôi trong căn nhà mới xây khang trang, đầy đủ tiện nghi, Trưởng thôn Cốc Phương Thào Dìn cho biết: "Vụ dứa năm ngoái, nhà tôi thu hoạch được hơn 100 tấn quả, bán cho Nhà máy chế biến dứa xuất khẩu Bắc Giang được gần 200 triệu đồng. Cả thôn Cốc Phương nhà nào cũng trồng dứa. Thấy nhiều nhà giàu lên bằng trồng dứa nên mọi người trong thôn tự học nhau mà làm thôi". Vậy là, lề lối sản xuất tự cung tự cấp, khép kín; tập quán du canh du cư tồn tại bao năm nay trong đồng bào Mông ở đây đã thay đổi. Không còn cảnh độc canh lúa nương, trồng mỗi cây ngô giống địa phương năng suất thấp để có cái ăn, người Mông, Dao, Nùng ở Bản Lầu đã biết sản xuất hàng hóa. Phong trào trồng dứa xuất khẩu đã lan tỏa từ những mô hình làm ăn khá, giỏi trong thôn, xã, lôi cuốn mọi người làm theo. Cán bộ khuyến nông tập trung hướng dẫn kỹ thuật, chính quyền lo việc quy hoạch, quản lý đất đai cho trồng dứa phù hợp định hướng phát triển nông - lâm bền vững của huyện và tỉnh. Ngoài trưởng thôn Thào Dìn, các hộ như Thào Vư ở thôn Cốc Phương, Sủng Phìn ở thôn Na Lốc 4, Tráng Seo Dinh ở thôn Ðồi Gianh, Vàng Seo Sẩu ở thôn Pạc Bo, v.v. đều là những hộ có thu nhập hàng trăm triệu đồng từ tiền bán dứa quả hằng năm. Chủ tịch UBND xã Bản Lầu Ðỗ Duy Phiên cho biết: Cả xã Bản Lầu hiện có 300 ha dứa xuất khẩu, tạo việc làm và nguồn thu nhập khá cho 236 hộ gia đình dân tộc Mông, Dao, Nùng ở địa phương. Nhờ tạo được vùng dứa tập trung, cho nên hằng năm Bản Lầu bán cho các nhà máy chế biến dứa xuất khẩu ở Hà Nội, Bắc Giang, Hải Phòng khoảng 3.000 tấn quả, trị giá hơn bốn tỷ đồng. Ðến vụ thu hoạch, xe ô-tô của các nhà máy đến tận chân đồi dứa để cân hàng và trả tiền tại chỗ. Sản phẩm dứa quả Bản Lầu, Mường Khương được khách hàng ưa chuộng bởi quả to, đều; vị ngọt, thơm, nhiều nước. Con số chưa lớn nhưng rất đáng kể đối với một huyện miền núi biên giới nhiều khó khăn hơn thuận lợi như Mường Khương.

Mường Khương có 55.376 ha đất tự nhiên, trong đó chỉ có 8.359 ha đất canh tác nông nghiệp, 19 nghìn ha đất lâm nghiệp, còn lại chủ yếu là đất đồi núi đá vôi. Ðịa hình bị chia cắt tạo nên độ dốc lớn, phân chia thành các tiểu vùng khí hậu khác nhau. Ðồng bào trong huyện gồm 14 dân tộc, trình độ dân trí còn thấp, tập quán sản xuất lạc hậu. Từ năm 2001, tỉnh Lào Cai đưa ra đề án đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn, đã tạo đà cho nông nghiệp Mường Khương đổi mới. Chủ tịch UBND huyện Nông Văn Hưng cho biết: Ðể chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của huyện theo hướng sản xuất hàng hóa, điều quyết định là phải quy hoạch vùng sản xuất tập trung; lựa chọn cây, con thích hợp để tạo ra hiệu quả kinh tế cao; gắn sản xuất với thị trường, tạo đầu ra ổn định cho nông sản hàng hóa.

Thực hiện đề án phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh và Nghị quyết 02 của Huyện ủy, nếu như ở vùng đồi núi sát biên giới, Mường Khương lựa chọn đưa cây dứa lên đồi dốc, hoặc ven rừng già phòng hộ, thì ở các xã vùng thấp của huyện lại được quy hoạch phát triển cây chè shan, ngô lai năng suất cao. Giống chè shan là đặc sản của vùng núi cao; chất lượng ngon, sạch, phù hợp khí hậu, thổ nhưỡng và tập quán canh tác của đồng bào các dân tộc Kinh, Giáy, Tày, Nùng ở các xã: Bản Sen, Bản Lầu, Lùng Vai, Thanh Bình, Tả Thàng, Cao Sơn, La Pán Tẩn. Thực hiện chương trình trồng chè hàng hóa của tỉnh, Mường Khương tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích người dân trồng chè, hình thành vùng chè tập trung ở bảy xã, với diện tích 447 ha, hằng năm cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy chè Thanh Bình của tỉnh, sản xuất ra 170 tấn sản phẩm chè xanh xuất khẩu trực tiếp sang thị trường Trung Ðông và bán trong nước. Cái khó trong việc đưa cây chè lên vùng cao là tập quán canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số chưa quen với cây chè, vì lâu cho thu hoạch, lại phải có kỹ thuật sao sấy. Thấy rõ cái khó, huyện chỉ đạo Phòng Kinh tế, Trạm khuyến nông và Hội Nông dân tích cực tuyên truyền, vận động, phổ biến kỹ thuật, hướng dẫn theo cách "cầm tay chỉ việc" cho nông dân trồng chè. Thấy rõ lợi ích của loại cây công nghiệp này, bà con tích cực hưởng ứng. Nhờ vậy, hiện có gần 500 hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn thu nhập ổn định, với giá bán 2.400 đồng/kg chè búp tươi cho Nhà máy chế biến chè Thanh Bình. Ðể gắn kết với nông dân, Nhà máy chè Thanh Bình ký hợp đồng trực tiếp với từng hộ nông dân, cung ứng giống, phân bón, hướng dẫn kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm chè tươi. Nhiều hộ nông dân có đời sống khá lên từ trồng và chế biến chè. Huyện còn hỗ trợ máy vò chè loại nhỏ giúp nông dân chế biến chè bảo đảm chất lượng, mẫu mã đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng. Chị Nguyễn Thị Hoạt ở thôn Gốc Gạo, xã Thanh Bình cho biết, với bốn lao động, gia đình chị chăm sóc hơn một ha chè, hằng năm cho thu nhập thêm từ 15 đến 18 triệu đồng, nếu so sánh thì cao gấp bốn, năm lần trồng lúa nương, lại bền vững hơn, vì cây chè cho thu hoạch lâu hơn, năng suất ổn định.

Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Mường Khương phải kể đến hai  loại cây chủ lực là ngô và đậu tương. Mường Khương là huyện sản xuất ngô lớn nhất của tỉnh Lào Cai, tổng sản lượng năm 2005 đạt gần 15.000 tấn, trị giá khoảng 30 tỷ đồng. Từ lâu, đồng bào dân  tộc thiểu số nơi đây đã gắn bó với hai loại cây nông nghiệp này nhưng chỉ quen với giống ngô địa phương, năng suất thấp, chủ yếu dùng để làm lương thực, thực phẩm (làm đậu phụ, xì dầu). Xác định đây là thế mạnh, do đất đai phù hợp, người dân có kinh nghiệm trong tập quán canh tác, huyện tập trung chỉ đạo đưa giống mới vào sản xuất, kết hợp thâm canh tạo sự đột phá về năng suất và sản lượng, làm tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị ha canh tác. Sau năm năm thực hiện Nghị quyết 02 của Huyện ủy về đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hàng hóa, đến nay, Mường Khương đã có hơn 5.000 ha ngô, tăng mười lần so với trước, trong đó hình thành 1.800 ha ngô chuyên canh tập trung, 70% diện tích được gieo trồng bằng giống ngô lai năng suất cao. Cây ngô lai đã đẩy tăng năng suất, sản lượng, tạo ra giá trị hàng hóa cao gấp nhiều lần so với giống cũ trước đây, xóa hẳn được cái đói dai dẳng ở các xã vùng sâu, vùng xa của huyện. Riêng ở hai xã khó khăn nhất của huyện là Dìn Chin và Tả Gia Khâu, do thiếu nước tưới, hầu như không có ruộng nước, nhờ đưa giống ngô lai vào sản xuất đã xóa được hộ đói, giảm được 50% số hộ nghèo. Chúng tôi đến thăm gia đình ông Lồ Phủ Dìn, chung quanh nhà chất đầy những bao tải ngô hạt đã phơi khô, ông cười và nói: "Bây giờ thì không lo cái đói nữa, chỉ còn lo làm giàu thôi". Ðược biết, năm ngoái gia đình ông bán được 16 triệu đồng tiền ngô cho khách hàng ngoài Lào Cai. Diện tích cây đậu tương cũng tăng lên 1.200 ha, Viện Di truyền nông nghiệp đã giúp huyện sản xuất thành công tại địa phương hai giống đậu tương cao sản là ÐT 84 và ÐT 96 cho năng suất cao gấp hai lần so với giống cũ, nâng tổng sản lượng hằng năm đạt gần 1.000 tấn hạt, góp phần tăng thu nhập cho người dân.

Bên cạnh việc quy hoạch, hình thành các vùng sản xuất tập trung, đủ tạo ra lượng hàng hóa lớn để thu hút các doanh nghiệp xây dựng nhà máy chế biến, Mường Khương còn chú trọng đầu ra cho nông sản. Huyện đã đăng ký thương hiệu cho hai sản phẩm đặc sản là gạo Séng Cù và tương ớt. Gạo Séng Cù được người tiêu dùng ưa chuộng bởi chất lượng thơm, ngon, dẻo, giá bán gấp hai lần so với các loại gạo thông thường. Ba năm qua, Mường Khương đã chuyển sang phát triển vùng lúa đặc sản Séng Cù ở cánh đồng Tùng Lâu, xã Mường Khương, rộng 80 ha, và ở những xã có diện tích lúa nước khá tập trung như Bản Lầu, Bản Sen... Ðến nay, đã có 258 ha chuyên canh sản xuất gạo Séng Cù. Ðể bảo đảm nguồn giống thuần chủng, huyện đã mời các nhà khoa học thuộc Viện Di truyền nông nghiệp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu sản xuất thành công giống lúa Séng Cù tại chỗ, bảo đảm tiêu chuẩn giống tốt. Cây ớt thóc của đồng bào dân tộc Nùng Mường Khương từ lâu đã nổi tiếng vì vị cay đậm, thơm, không hăng, huyện đã phục tráng giống ớt này và khuyến khích phát triển thành vùng nguyên liệu hơn 300 ha. Năm ngoái, Mường Khương đã thành lập HTX chế biến nông sản, đầu tư dây chuyền đánh bóng gạo Séng Cù và đóng chai sản phẩm tương ớt, nhằm nâng cao giá trị hàng hóa trên thị trường. Hiện nay, Công ty TNHH Hải Minh ở thành phố Lào Cai đang đặt vấn đề chia sẻ bản quyền thương hiệu hoặc được làm tổng đại lý cho hai sản phẩm này.

Tận dụng thế mạnh đất đai rộng thuộc các xã vùng cao (thượng huyện) như Tả Gia Khâu, Dìn Chin, Cao Sơn, Mường Khương quy hoạch hơn 300 ha dùng làm bãi chăn thả gia súc, đồng thời vận động nhân dân trồng cỏ voi nhằm phát triển chăn nuôi đại gia súc, tốc độ tăng trưởng đàn đạt 6%/năm. Hiện nay, huyện có đàn gia súc gồm 15 nghìn con trâu, bò. Huyện đã phục tráng giống lợn Mường Khương bản địa vóc dáng to, sinh trưởng nhanh, thịt nạc, thơm ngon đưa vào nuôi đại trà; đàn lợn gần 28 nghìn con, hằng năm cung cấp hàng trăm tấn thực phẩm chất lượng cao cho TP Lào Cai, khu du lịch Sa Pa và khu công nghiệp khai thác mỏ Cam Ðường.

BẰNG cách gắn kết bốn nhà "Nhà quản lý, nhà nông, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp", huyện vùng cao Mường Khương đã bước đầu tạo được vùng hàng hóa tập trung, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của cây trồng, vật nuôi. Ðiều quan trọng nhất, như đồng chí Bí thư Huyện ủy Tạ Ðình Bảng cho biết, đó là nhận thức của đồng bào các dân tộc miền núi, vùng cao về sản xuất hàng hóa, trong đó việc sử dụng giống mới, cây trồng, vật nuôi mới, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất đã có chuyển biến rõ rệt, tạo nên năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn trước nhiều lần. Nhờ vậy, trong nhiệm kỳ 2000 - 2005, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 9%/năm, riêng lương thực quy thóc tăng từ 16 nghìn tấn lên 21,6 nghìn tấn, vượt 3.000 tấn so với mục tiêu Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ huyện đề ra. Bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, 16/16 xã có đường ô-tô, trường học, trạm y tế, điểm bưu điện - văn hóa, 70% số dân được sử dụng điện, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh.

Những kết quả đạt được sẽ là tiền đề quan trọng để  tạo nên sức bật mới cho Mường Khương tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, đạt được kết quả cao hơn trong nhiệm kỳ 2005 - 2010. Tuy nhiên, Mường Khương cần đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ xã; đổi mới cách thức tuyên truyền khuyến nông theo hướng cụ thể, dễ hiểu, dễ làm; nghiên cứu, lựa chọn đưa thêm cây trồng, vật nuôi mới vào sản xuất, đồng thời có chính sách thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn mạnh hơn.

Có thể bạn quan tâm