- Sao lại chở về thế?
- Có nghìn rưỡi một cân, lại còn chê băn chê bẻ, vặt quả này bỏ quả kia bán có mà bằng đổ đi à. Mang về bỏ vào sấy cho mấy đứa ăn dần, không thì đổ cho cá, bóc vỏ cho gà cho ngan nó ăn còn đỡ xót.
Bố ngồi bịch xuống đống lá vải, đưa tay quệt mồ hôi đang chảy thành dòng xuống mặt, lắc đầu chán nản:
- Bật cái quạt lên mà ngồi cho mát. Không đi cân đi bán gì nữa đâu mà sợ gió vào thâm mã. Chiều nay bẻ nốt mấy cây sau vườn, rồi qua bảo bác Lâm đắp lò hai nhà sấy chung.
Ba mẹ con ngồi nhìn nhau không ai nói với ai câu nào, cứ thế cặm cụi nhặt vải. Nhặt xong, chị em tôi lại cầm tải ra vườn sau bẻ quả. Nhìn những chùm vải trĩu trịt phơi mình trong nắng thấy chói mắt. Chẳng bù cho một tháng trước khi vẫn còn đang nhoài người ôn thi, lúc mệt mỏi, chán nản tôi lại ngồi tưởng tượng ra cảnh về quê, được trèo lên cây, ngửa mặt cắn bập hàm răng vào những quả vải mọng nước để mà thấy nó mát dịu thơm ngọt đến thế nào. Bây giờ thì chỉ thấy nghèn nghẹn ở cổ họng.
Năm nay vải được mùa. Vườn nhà nào cũng lủng liểng quả. Mọi người chắc mẩm vẫn giữ được cái giá hai nghìn rưỡi như năm ngoái. Thế đã bèo bọt lắm rồi. Nhưng không ngờ chỉ có loạt vải sớm bán được năm nghìn đồng. Mười ngày sau vải thiều bắt đầu chín thì giá đã xuống ba nghìn. Bố mẹ trông chờ vụ vải này sẽ thu được vài triệu chuẩn bị cho em tôi đi thi đại học, và dành dụm chút ít cho tôi nộp học phí năm học tới. Giờ thì còn mong gì nữa. Nắng gay gắt cháy, vải cứ đỏ lựng lên, tôi tưởng như mình đang đứng dưới bầu trời đổ lửa.
Buổi tối, vừa ăn cơm xong thì bác Lâm sang. Nhìn đống vải xếp chật gian nhà bác chẹp miệng:
- Ðược mùa cũng chẳng sung sướng gì. Hôm nay tôi chặt cả khu vườn trước cửa rồi. Lại phá hết thôi.
- Năm ngoái em chặt hết khu vườn trước, bố tôi gật đầu, khu vườn sau nhà năm nay cũng chặt nốt, chỉ để lại hai luồng ở dưới bãi. Thế này thì chẳng trông chờ gì được. Lại xoay ra mà trồng ổi, đu đủ, ké thêm ít chanh, ít gừng còn có thu nhập hơn.
Hai người ngồi uống nước, hút thuốc lào và bàn chuyện trồng trọt. Tôi nghe lõm bõm câu chuyện cũng vẫn quanh quất mãi mấy cây vải. Tiếng thở dài dội vào trong buồng. Em tôi ngồi học, thỉnh thoảng lại vặt quả vải đưa lên miệng:
- Ðặc sản Thanh Hà mà phải nằm xếp xó thế này à?
Nó quay ra ngó tôi:
- Chị đi học ở Hà Nội, có thấy người ta bán vải không?
- Có. Nhưng vải quê mình không có mấy đâu. Hiếm lắm. Toàn vải nơi khác đổ về. Cũng chỉ ba bốn nghìn một cân. Mang từ quê mình lên chẳng đủ tiền xăng.
- Nghe bảo có nhà máy chế biến rượu vải rồi hả chị? Lại còn đóng gói xuất khẩu nữa, sao vẫn ế, vẫn rẻ như bèo thế nhỉ?
Việc xây dựng nhà máy chế biến rượu vải đã nghe mấy năm nay rồi. Nhưng đến tận bây giờ chưa ai ở vùng đất này nhìn thấy nhà máy chế biến rượu vải như thế nào. Mỗi mùa vải chín, mọi người lại lũ lượt chở vải đi Hải Phòng, Quảng Ninh. Có nhà nhiều vải quá, bán không xuể thì phải bỏ vào sấy. Bốn cân vải tươi mới được một cân vải khô, rồi tiền than củi, tiền bao bì bảo quản... bao nhiêu thứ phải lo, tới khi bán có khi còn trượt giá. Ðó là chưa kể sấy quá lửa vải hỏng hết chỉ có nước đổ đi. Cả vụ vải, mọi người luôn sống trong thấp thỏm, lo âu. Gặp nhau chỉ hỏi xem bán được vải chưa chứ chẳng mấy ai hỏi bán vải giá bao nhiêu.
Tôi ngồi thừ nhìn đống vải xếp trong góc nhà. Ngày trước, chúng tôi có muốn ăn một quả vải cũng phải lén lút ăn vụng bố mẹ. Mỗi đêm mưa rào lại khấp khởi mừng thầm vì sáng ra tha hồ nhặt vải rụng.
Em tôi ghé tai nói nhỏ:
- Hôm qua lúc em đi học thêm, sớm thế đã thấy một ô-tô đang dỡ vải xuống đóng gói. Nó mang biển số 9... chị ạ.
- Thế à? - Tôi giật mình - Thôi em học đi, sắp thi rồi đấy.
Tôi cầm quyển truyện leo lên sân thượng ngồi hóng gió. Trong đầu cứ quanh quẩn câu nói của em. Tôi cũng đã từng nghe chuyện người ta mang vải ở nơi khác về đây đóng gói rồi dán nhãn vải Thanh Hà mang đi nơi khác đổ hàng. Nhưng không tin. Vải quê mình còn chưa bán được, ai lại đi mang vải nơi khác về. Nhưng bây giờ nghe em nói, tôi thấy nghèn nghẹn. Chỉ vì cái lợi trước mắt mà họ không màng tới lợi ích chung lâu dài của quê hương.
Bố mượn được ở đâu cái cưa máy về, chỉ hơn một tiếng đồng hồ, cả vườn vải sau nhà đã đổ rạp. Chị em tôi không phải trèo cây bẻ quả, cứ lật từng tán lá ra mà bẻ, vừa nhanh lại không sợ ngã, không sợ ong châm hay sít đái. Còn nhớ năm ngoái em tôi trèo lên cây bẻ vải bị sít tè vào lưng, vào cả mặt. Nó chỉ kịp bóc mấy quả vải chà vào mặt, còn ở lưng thì không làm thế nào mà chà được vì khi đó không có ai ở nhà. Lưng nó rộp lên như phải bỏng. Nó phải nằm nghiêng mất một tuần trời.
Cả khu vườn sau thay đổi hẳn. Những tán lá um tùm che khuất bầu trời biến mất, trả lại không gian khoáng đạt. Tôi tiếc ngẩn ngơ. Bây giờ thì chẳng còn chạc cây nào để chị em tôi giành nhau nằm vắt vẻo những trưa oi nồng. Cũng chẳng còn tán lá nào mà nấp bóng để câu cá. Chỉ còn lại những gốc vải sần sùi, trơ trụi phơi mình trong nắng hè bỏng rát.
Bố và bác Lâm hì hụi đắp lò sấy vải. Hết buổi sáng thì đắp xong được mười lò. Cả hai nhà cũng được gần hai chục tạ, ngần ấy lò là thoải mái. Ðốt lò được một ngày đã thấy mùi vải thơm ngào ngạt. Em tôi thèm quá, vạch tấm bạt che vặt vài quả. Nó mới chỉ khô hết vỏ, cùi thì hơi se lại một chút, nhưng mà dậy mùi rất thơm.
- Chị ơi, em tôi hích tay, vải sấy ngon thế này sao người ta không xuất khẩu nhỉ?
Những năm trước, thương lái về đây mua vải sấy đóng gói xuất khẩu đi các nước khác đông lắm. Nhưng mấy năm lại đây không thấy có người về mua nữa. Chỉ thỉnh thoảng có người mua chút ít mang đi làm quà biếu hoặc bán lẻ. Tôi đọc trên báo thấy trước khi đóng gói xuất khẩu, người ta dội nước vào cho nặng cân, còn trộn lẫn với vải lai, vải u. Chất lượng vải không tốt, bảo quản không được lâu, dần dần mất uy tín nên việc xuất khẩu gặp khó khăn. Vậy là tự dưng mất đi một lối ra cho quả vải.
Trời đang nắng to bỗng đổ mưa rào. Mưa kéo dài mãi không dứt. Bố ngồi hút thuốc lào, khói thuốc luẩn quẩn trong gian nhà chật hẹp làm cho không khí thêm ngột ngạt. Mẹ ngồi chẻ bèo cho ngan ngoài hiên, nhìn trời mưa lắc đầu chán nản:
- Ðang nắng gay nắng gắt mà lại đổ mưa rào thế này, nhà nào còn vải thì cũng hỏng hết thôi. Lại nứt toác cả ra, rồi thì tha hồ mà nấm.
- Cứ chờ vào vụ vải thế này thì chỉ có chết đói. - bố nói vọng ra - may mà còn trồng được ít chanh, ít ổi.
Bố quay sang chị em tôi đang chống cằm ngồi nhìn trời mưa xối xả:
- Cố mà học để thoát khỏi cái cảnh này con ạ. Cứ bám cái đất này rồi thì không khá lên được.
- Bố nói thế! - Em tôi phản đối - Vải Thanh Hà là đặc sản nổi tiếng...
Bố châm điếu thuốc nữa rồi hất cằm ra ngoài vườn:
- Nhưng bây giờ đang không có chỗ mà đổ đấy.
- Rồi sẽ có chỗ đổ. - Giọng em hạ xuống thấp hơn nhưng đầy quả quyết - Sẽ có bố ạ.
Bố nhìn nó tỏ vẻ ngạc nhiên. Nó đứng dậy, ra cửa ngồi bên mẹ, mắt ngước nhìn bầu trời sũng nước. Tôi chẳng hiểu nó đang nghĩ gì. Thỉnh thoảng, nó lại hỏi tôi những câu liên quan đến vải. Có lần nó hỏi: "Chị có buồn nếu người ta chặt hết vải không?". Lần khác nó lại bảo: "Sau này chị em mình cùng mở nhà máy chế biến vải để xuất khẩu nhé!". Những lần như thế tôi chẳng biết nói gì, chỉ nhìn nó cười cười.
Sau trận mưa rào, mọi người trong xóm nhao lên hỏi nhau xem làm cách nào giữ cho vải khỏi bị nứt. Nhưng không có giải pháp nào khả quan cả. Quả vải đang lúc căng mọng, mỏng vỏ, trận mưa kéo tới đột ngột, vải hút nhiều nước, làm sao giữ được. Ðược mùa thế này còn thiệt hại nhiều hơn là mất mùa. Mất mùa thì ngay từ đầu chẳng phải lo lắng mua phân đạm chăm bón, chẳng tốn tiền thuốc trừ sâu. Ðược mùa như năm nay đã mất bao nhiêu công sức chăm bón, mất một khoản tiền thuốc trừ sâu đáng kể, tới khi được thu thì rớt giá, rồi mưa rào đột ngột, coi như mất trắng.
Tôi đang phụ bố cho vải sấy ra lò. Mặt mũi lem luốc, mồ hôi ướt đẫm, em tôi hớt hải chạy vào:
- Bố với chị ra đầu ngõ mà nghe kìa. Ðài phát thanh huyện đang oang oang nói về vụ xe tải tỉnh B. đấy.
Hai bố con tôi chưa kịp hiểu đầu đuôi ra sao, nó đã chạy biến ra ngoài. Tôi bỏ thúng vải xuống, chạy theo. Ra tới đầu ngõ, mọi người đang ngồi dàn hàng ở đó, lặng im nghe tiếng loa phát thanh. Sáng nay người ta bắt được một xe tải chở vải từ nơi khác về đổ cho thương lái ở đây. Họ đóng hộp và dán nhãn vải Thanh Hà. Sau đó, mang số vải ấy đi các nơi khác để đổ. Bản tin kết thúc, mọi người vẫn ngồi im lặng nhìn nhau. Lúc sau người ta đứng dậy phủi quần:
- Không biết mấy ông chính quyền sẽ giải quyết vụ này thế nào?
- Gớm, chỉ được cái nói hay thôi. Phá vải trồng hoa màu thì bảo không nên, chính quyền sẽ tìm cách giải quyết, rồi lại còn đang cho xây dựng nhà máy chế biến rượu vải nữa chứ. Bây giờ thì để người ta ngang nhiên mang vải về tận đất nhà mình rồi.
Mọi người lần lượt ra về, chị em tôi vẫn ngồi thừ trước ngõ. Bố lầm lũi đi vào. Nhìn chỗ vải sấy thơm ngào ngạt mà thấy xót xa.
Bố đánh mấy gốc vải ở giữa vườn trước cửa, rồi thuê người tới đào ao. Nhìn cái ao mới đào rộng rãi bố bảo trước mắt để nuôi ngan, nuôi vịt, sau sẽ cải tạo cái vườn này nuôi trồng theo mô hình VAC.
Bầu trời vần vũ mây đen. Mưa liên tục mấy ngày liền. Bố lo lắng đứng ngồi không yên. Nhìn đàn vịt hơn trăm con mới bắt được dăm hôm dính mưa bẩn bê bết đang đứng co ro dưới mái lều che tạm phía cuối vườn, bố thở dài.
- Thế kia rồi có sống nổi không?
Mẹ ngồi lặng im không nói. Em tôi buông quyển sách xuống bàn, leo lên giường nằm cạnh tôi. Nó trở mình liên tục. Hết thở dài lại bẻ ngón tay cạch cạch. Nó giật tay áo tôi:
- Chị! Em thấy người ta phá vải đông lắm. Có lẽ năm sau chẳng còn vải nữa đâu.
- Em lo học đi nghĩ mấy chuyện đó làm gì. Bố còn đang lo đàn vịt kia kìa.
Nó nằm quay mặt vào trong đưa tay mở cánh cửa sổ. Ngoài trời mưa vẫn rơi rả rích. Những gốc vải đứng trơ trọi để mặc mưa xối vào thân xác. Tôi chìm khuất vào giấc ngủ khi nào chẳng rõ. Tôi thấy mình đang nằm vắt vẻo trên cành vải chìa ra bờ ao, bóng tôi in xuống mặt nước rung rinh. Tôi ngửa cổ, kéo chùm vải chín đỏ xuống gần rồi há miệng cắn tách đôi vỏ quả vải, nhằn lấy phần cùi mọng nước. Quả vải to quá, nước nhiều quá, ngọt quá, tôi sặc. Tôi ngồi bật dậy, cành vải bất ngờ bật lên, tôi cũng bị bật lên khỏi cành vải. Tôi hét gọi em. Tôi sợ bị rơi xuống cái ao sâu hơn hai mét này. Tôi cố gắng bấu víu để khỏi bị rớt xuống. Bỗng có cái gì đập mạnh vào người tôi. Tôi choàng tỉnh. Hóa ra tôi đang mơ. Em tôi cúi xuống nhìn, nhăn nhó:
- Mơ cái gì mà khiếp thế?
Tôi ngơ ngác một lúc, chợt hiểu ra, tôi cười:
- Mơ được nằm vắt vẻo trên cành vải câu cá.
- Trời! - Em tròn mắt nhìn tôi, nó đưa tay rờ lên trán tôi rồi buông một câu như thể bác sĩ nói với bệnh nhân:
- Ðúng là mơ giữa ban ngày có khác. Nhìn lại đi chị. Làm gì còn cây vải nào, chỉ có cái ao rộng mênh mông với đàn vịt co ro thôi.
Sau mấy ngày mưa triền miên, đàn vịt của bố còn sống sót được một nửa. Chúng bị đi ngoài, bị rụng lông trơ trụi. Bỏ đi không nỡ mà để lại nuôi thì cũng còi cọc không lớn được, lại còn tiền thuốc men chữa chạy nữa. Sau này bán được giá thì may ra đủ vốn.
Bố đang hì hụi cắm tre quây lại chuồng vịt thì bác Lâm gọi với sang:
- Này, vải sấy được mười hai nghìn đấy, có bán không? Bán mà lấy tiền cho thằng út đi thi.
Bố bỏ mấy khúc tre xuống, tiến lại mé vườn. Hai người gật gù to nhỏ một lúc rồi bố quay về bảo mẹ bán hết chỗ vải sấy. Nhà tôi cũng chẳng có nhiều. Tám tạ vải tươi, sấy thì được hai tạ vải khô, bán với giá mười hai nghìn tính ra mới được hơn hai triệu. Ngần ấy may ra cũng đủ cho em tôi đi thi hai đợt khối A và khối D. Bây giờ thương lái bắt đầu đổ về đây mua vải khô. Chẳng biết liệu sau này giá vải khô có lên được chút nào không, hay lại như năm ngoái càng ngày càng hạ, nên mọi người bảo nhau có bao nhiêu bán hết. Vậy là xong vụ vải. Chuyện chiếc xe biển số 9..., có người đã quên, có người vẫn còn nhắc. Nhưng chẳng ai thấy chính quyền lên tiếng. Có hỏi thì họ bảo đang giải quyết. Chờ họ giải quyết xong, có lẽ vải lại chín thêm mùa nữa rồi.
Em tôi đi thi về, nó khoe làm bài tốt. Buổi tối, chị em ngồi với nhau trên sân thượng, nó đưa cho tôi một quyển sách mới mua. "Bí quyết thành công". Tôi đọc tựa đề rồi nhìn nó. Nó ngước nhìn bầu trời đầy sao:
- Nhất định em sẽ thành công.
- Ừ, em chị học giỏi vậy thì nhất định sẽ đỗ. Tôi quàng vai nó tán thành. Nhưng nó lại bảo:
- Không! Em sẽ lấy lại những chạc vải đã mất để chị em mình cùng câu cá và nằm ngủ vắt vẻo.
Nó ngước nhìn những ngôi sao lấp lánh. Thì ra, trong lòng nó vẫn không quên cái ý định mà đã có lần nó khẳng định với bố. Khẽ mở trang sách đầu tiên, tôi đọc được dòng chữ viết cẩn thận của nó:
"Không có hoàn cảnh nào là tuyệt vọng. Chỉ có những con người tuyệt vọng vì hoàn cảnh".
Gió đêm mát rượi. Trăng mười bảy sáng trong lành. Tôi thấy mùi vải sấy thơm ngọt ngào.