Là học sinh Trường Taberd - Sài Gòn cho đến lớp 11, năm 1965 cùng gia đình sang sống ở Vientiane - Lào, nơi mẹ anh một mình nuôi các con ăn học bằng việc dạy tiếng Pháp ở bậc trung học, Võ Quang Đăng đã đỗ tú tài II ở đó, rồi sang Pháp du học, tốt nghiệp Trường Đại học CHU Saint Louis Lariboisière - Paris (CHU: Centre Hospitalier Universitaire - là những trung tâm điều trị gắn liền với hệ thống các trường đại học y ở Pháp, nơi sinh viên, giáo sư đến thực tập, giảng dạy và nghiên cứu y học).
Sau mười năm làm việc ở lĩnh vực đa khoa, chữa khỏi những bệnh khó như đau dây thần kinh, ung thư... bác sĩ (BS) Võ Quang Đăng tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về ung thư di căn, mong tìm ra phương cách chữa trị căn bệnh vẫn được xem là nan y, vốn giết chết nhiều bệnh nhân này.
Hiện nay, anh đã được cấp bằng về một phát minh trong điều trị ung thư di căn: một loại thuốc mới không đắt tiền, đã cho hiệu quả rất tốt trên những bệnh nhân mà nhiều bệnh viện ở Pháp, Mỹ đã bó tay. Tất cả bệnh nhân sau khi bị ung thư di căn đều phải chịu phẫu thuật cắt bỏ và điều trị bằng các loại thuốc rất mạnh và độc hại cho cơ thể. Nhiều bệnh nhân do thể trạng yếu đã không đủ sức chịu đựng tác dụng phụ của thuốc, một số đã chết vì ảnh hưởng của thuốc hơn là ảnh hưởng của bệnh. Tìm cách nâng cao thể trạng bệnh nhân để họ đủ sức khỏe nhằm kéo dài thời gian chữa trị cho đến khi đẩy lùi được căn bệnh là mục đích nghiên cứu của BS Võ Quang Đăng. Loại thuốc anh tìm ra đã được sử dụng suốt mười năm qua và đã cho những kết quả rất khả quan qua việc cứu sống nhiều bệnh nhân ung thư di căn đã ở tình trạng rất nặng.
Từ những kết quả điều trị của công trình này, BS Võ Quang Đăng đã được Trường CHU COCHIN - Paris cấp bằng chuyên khoa điều trị ung thư di căn Prise en charge multidisciplinaire du cancer métastatique. Kết quả tốt đẹp này sẽ được BS Võ Quang Đăng công bố nhằm đưa loại thuốc này đến với bệnh nhân ung thư, những người thường có rất ít hy vọng sống.
Nhân chuyến về thăm quê, BS Võ Quang Đăng muốn được trở về quê hương làm việc bán thời gian, đem chuyên môn của mình phục vụ những đồng bào nghèo, không đủ tiền chữa chạy căn bệnh đang trở nên khá phổ biến ở Việt Nam hiện nay.
- Xin anh cho biết về khám phá mới của anh trong điều trị ung thư di căn?
- Ung thư di căn là trạng thái nặng nhất của ung thư và cũng là một bệnh không chỉ bệnh nhân mà phần lớn BS cũng rất bi quan, thường chịu bó tay, trong khi lẽ ra chúng ta phải phấn đấu vì vẫn còn hy vọng nếu tìm ra được cách chữa đúng ngay từ đầu và áp dụng những cách chữa mới nhất. Đã có rất nhiều nghiên cứu về ung thư di căn và mỗi năm đều có thêm những tìm tòi mới lạ, song phần lớn đều đi vào hướng rất phức tạp và đắt tiền, ngay cả với các nước tiên tiến. Những kết quả ấy nếu có cũng khó lòng áp dụng ở Việt Nam.
Phần tôi từ lâu vẫn nghĩ rằng: Một là, có sự phối hợp giữa vi trùng/vi khuẩn với tế bào ung thư, tế bào ung thư chỉ bành trướng khi gặp loại vi trùng hay vi khuẩn đặc biệt của nó; Hai là, sự bành trướng của tế bào ung thư cũng tùy thuộc vào sức đề kháng của cơ thể.
Bác sĩ Võ Quang Đăng cùng gia đình
trong chuyến về thăm quê hương.
Từ suy nghĩ này, tôi đã tìm ra loại thuốc có thể dùng chữa cho bệnh nhân ung thư di căn dựa vào hai đặc tính trên: bảo vệ được bệnh nhân trước tế bào ung thư, tăng cường và giúp cho sức kháng vi trùng/vi khuẩn của bệnh nhân mạnh lên. 99% bệnh nhân của tôi đã khỏi bệnh, trong đó có những chứng ung thư di căn rất khó chữa như ung thư phổi.
Kết quả sau mười lăm năm làm việc với loại thuốc này, tôi đã chữa khỏi các dạng bệnh ung thư di căn: ung thư phổi (di căn ra giữa hai cuống và phổi bên kia) hơn 10 bệnh nhân, người lâu nhất đến nay đã được 15 năm và vẫn sống khỏe mạnh; ung thư buồng trứng (di căn ra ruột già, gan và bụng) hơn 10 bệnh nhân, người lâu nhất đã được 12 năm; ung thư vú (di căn ra xương) hơn 20 bệnh nhân, người lâu nhất đã 8 năm; ung thư ruột già (di căn ra gan và bụng) 5 bệnh nhân, người lâu nhất đã 5 năm; ung thư phổi (di căn ra xương) 2 bệnh nhân, người lâu nhất đã 4 năm vẫn sống khỏe, rất yêu đời; ung thư di căn ở phổi, xương và gan có 7 bệnh nhân, người lâu nhất đã được 2 năm, sức khỏe đã được cải thiện thấy rõ và đang tiếp tục chữa.
Loại thuốc của tôi uống vào sau khoảng hai tuần bệnh nhân sẽ khỏe ra; uống thêm một thời gian, bệnh không tiến triển nữa. Thuốc không gây phản ứng rụng tóc hay phá hủy hồng cầu, bạch cầu, không gây nôn mửa, kiểm soát máu dễ dàng, và nhất là không đắt tiền. Thuốc phải uống khoảng 2-3 năm rồi giảm dần đến năm thứ 5-6. Sau đó tùy sức khỏe mà kê đơn tiếp. Tôi đang chuẩn bị công bố trên các phương tiện truyền thông để các đồng nghiệp có thể biết mà áp dụng rộng rãi. Phần nghiên cứu hiện vẫn đang được tiếp tục nhưng theo tôi thuốc đã có thể sử dụng rộng rãi. Theo tôi biết thì ngay tại Pháp, số BS được đào tạo để chữa ung thư di căn vẫn còn rất ít, phải vài năm nữa mới đào tạo đủ.
- Thuốc của anh được sử dụng trong điều trị như thế nào?
- Trong phần lớn các trường hợp bệnh nhân tôi đã chữa, thuốc mới được dùng phối hợp với các loại thuốc cũ khác và giải phẫu cắt bỏ. Thuốc mới sẽ tăng khả năng chữa bệnh của thuốc cũ, giúp thời gian chữa bệnh ngắn đi. Nó cũng làm giảm tác dụng phụ do độc tính của thuốc cũ, giúp bệnh nhân bớt bị nhiễm trùng, hồi sức nhanh giữa hai đợt chữa trị. Nó cũng khiến bệnh nhân đỡ đau đớn và chất lượng cuộc sống khá hơn hẳn so với trước khi dùng. Trong những trường hợp có nhiều khối u di căn thì thuốc mới làm đình trệ tiến triển của bệnh, giúp BS giải phẫu dễ bóc tách gọn các khối u, không phải cắt rộng ra. Bệnh nhân sau đó thử máu đều bình thường trở lại và khỏe mạnh thật sự.
Do thuốc mới không độc và dễ uống nên có thể cho bệnh nhân uống trong thời gian chờ xác định đúng loại ung thư, trước khi thực hiện giải phẫu. Thuốc sẽ làm đình trệ tiến triển của bệnh. Thuốc cũng có thể được uống sau khi giải phẫu, vì cả sau khi giải phẫu, các khối ung thư nhỏ vẫn có thể sót lại, gây tái phát. Thuốc mới sẽ bảo vệ bệnh nhân, tăng cường sức khỏe, sức đề kháng, giúp bệnh nhân có cơ hội cao để thật sự thoát khỏi bệnh.
- Điều gì đã khiến anh muốn được về làm việc ở Việt Nam?
- Vào thời tôi học trung học, học sinh chúng tôi đã nhìn thấy chiến tranh ngay trong lớp học, trong nhà mình. Chiến tranh là một thiệt thòi lớn cho tuổi trẻ vì không thể có được những chương trình xã hội về tinh thần/thể chất như ở các nước thanh bình. Bố tôi chết vì bệnh tim năm 1960, nhưng trong nhiều năm trước đó, cả thầy lang và bác sĩ đều kê lầm cho ông thuốc lao phổi. Có lần bố tôi ngất xỉu giữa đường không có giấy tờ tùy thân, được người ta đưa vào nhà thương thí được ba ngày mà gia đình không biết. Bố tôi hôn mê, bị cột chân tay vào giường. Bác sĩ không vào phòng, chỉ đứng ngoài cửa hỏi y tá: "Hôm nay nó làm sao?". Hình ảnh này tôi không bao giờ quên và nhất quyết học y để giúp bệnh nhân tránh được những khó khăn mà gia đình tôi đã trải qua.
Tôi rất muốn đóng góp kinh nghiệm cùng các đồng nghiệp ở quê nhà nhằm góp phần giúp bệnh nhân ung thư được sống lâu hơn. Cái chính là phải làm sao cho bệnh nhân có thể sống, đi đứng như người bình thường với chất lượng cuộc sống tốt, chứ không nằm liệt đau đớn như thường thấy.
Hiện nay trên thế giới mọi căn bệnh đều đã lui bước trước những khám phá mới của y học, trừ AIDS và ung thư. Riêng với ung thư, chúng ta đã có những khám phá mới làm thay đổi hẳn cách nhìn nhận trước đây về di căn của tế bào ung thư, biến dạng của khối u ung thư theo thời gian, đặc điểm dị biến linh động của tế bào ung thư để kháng thuốc, câu kết giữa vi trùng/vi khuẩn và ung thư để tăng trưởng và tăng tiềm năng phá hoại cơ thể...
Với Việt Nam, chúng ta phải có một giải pháp thích hợp với điều kiện khó khăn của đất nước chứ không thể rập khuôn theo cách của Âu Mỹ, rất tốn kém và không phải khi nào cũng đúng. Điểm lưu ý là cần phải phòng bệnh ung thư. Theo những kết quả trong công việc của tôi mười lăm năm qua, chỉ cần có cách làm thật chính xác, với một số máy nhỏ và không đắt tiền, chúng ta có thể thực hiện thành công việc này, giúp dân chúng thoát khỏi nỗi đe dọa từ ung thư.
- Những đồng nghiệp người Việt của anh ở Pháp có đạt được những thành quả như anh không?
- Người ngoại quốc, nhất là người Pháp và châu Âu thường nhìn người Việt Nam với con mắt khâm phục vì những gì ông cha ta đã để lại, vì sức chịu đựng và phấn đấu của dân tộc Việt Nam sau bao năm chiến tranh, vì sự sáng suốt đổi mới của Chính phủ Việt Nam. Họ nhìn những bác sĩ Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài như những bác sĩ giỏi và tận tâm. Họ rất có thiện cảm. Ở Pháp, nhiều bệnh nhân muốn được chữa bởi bác sĩ người Việt nếu họ bị bệnh nặng hoặc bệnh nan y, và phần đông đều rất hài lòng.
Việt Nam có thể đi nhanh hơn và xa hơn nữa nếu có sự phối hợp hiểu biết giữa người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước. Cần nhất là Việt Nam phải tiếp tục tạo chỗ đứng, đặc biệt là trao đổi với ngoại quốc để vun đắp chỗ đứng trong cộng đồng thế giới trên mọi lãnh vực. Vì Việt Nam là một đất nước đẹp, có tiềm năng và người Việt Nam rất thông minh. Riêng về sức khỏe người dân, nhà nước nên tổ chức phòng các bệnh nan y hơn là chữa bệnh, như châu Âu vẫn đang làm.
- Xin cảm ơn anh!