Một số phương pháp xóa nếp nhăn tĩnh trên da mặt

Hầu hết các chế phẩm hiện được thế giới cho phép sử dụng vào việc chích xóa nhăn da mặt được điều chế từ mô động vật hay từ các chất vô cơ tổng hợp không gây hại. Tác động của chúng là lấp đầy mô dưới da, bồi hoàn lại chất keo collagène đã bị suy giảm dần theo tuổi tác; làm các vết nhăn nông hơn và mờ đi hoặc kích thích sự tái tạo lại phần nào mạng élastine và collagène dưới da.

Chất collagène

Collagène là một chất đạm (protein) tự nhiên có ở mô dưới da động vật, có tác dụng nâng đỡ làn da. Collagène dùng trên người có thể được điều chế từ collagène của loài vật, đặc biệt là bò nuôi để lấy da cho mục đích này, hoặc heo (Zyderm, Zyplast...). Để tăng tác dụng lấp đầy và tăng thời gian còn hiệu quả, các nhà nghiên cứu đã pha trộn dung dịch collagène với những viên bi thủy tinh y khoa. Chế phẩm này có tên là Artecoll. Để làm tăng độ dung nạp của cơ thể, collagène trích từ tế bào người (từ phương pháp nuôi cấy) được sử dụng trong chế phẩm Cosmoderm, Cosmoplast.

Tác dụng lấp đầy của Collngène làm giảm vết nhăn nông như vết nhăn đuôi mắt và môi trên, các vết nhăn sâu hơn như rãnh mũi môi hoặc dùng làm đầy những vùng mô mềm bị thoái triển trên cơ thể do lão hóa như môi, má, bờ dưới ổ mắt... Chất này không có tác dụng làm giãn da nên ít có hiệu quả trên loại da dày, nhờn cũng như loại da khô, mỏng.

Tùy cơ địa từng người, thời gian tác dụng của collagène là từ vài tháng đến một năm (do đó phải chích liều lập lại mỗi 6 tháng hay mỗi năm). Collagène có nguồn gốc từ động vật thì phải thực hiện phép thử trước khi điều trị 4 tuần bằng cách cấy collagène vào da để xem người đó có bị dị ứng không.

Thời gian chích được thực hiện trong khoảng 1 giờ. Khoảng 3% - 4% khách hàng có thể bị dị ứng như đỏ và sưng tấy nơi chích. Collagène có nguồn gốc từ tế bào người thì ít gây dị ứng và thường không cần phải cấy thử trước khi chích.

Ngoài tác dụng như collagène, chất Artecoll còn có những tinh thể thủy tinh hữu cơ y khoa bám dính vào mô và tích lũy dần về số lượng cho đến khi lấp đầy vĩnh viễn vết nhăn. Như vậy, hiệu quả do Artecoll lâu bền hơn các collagène khác. Để đạt kết quả hoàn hảo phải chích đúng độ sâu và đúng hàm lượng. Nên chích liễu lập lại mỗi 3 tháng và ngưng chích khi đã đạt kết quả để tránh sự quá liều làm vết nhăn go lên hoặc bị lồi lõm không đều do các hạt thủy tinh tích tụ.

Non-animal stabilized hyalu - ronic acid gel (NASHA)

Hyaluronic acid là một chất nền tồn tại trong cơ thể, có cấu trúc phân tử chung nhất cho nhiều loài động vật. Các đặc tính chủ yếu của acid hyaluronic là gắn kết với nước và tạo thành một khối trong mô của cơ thể.

Hiện hyaluronic acid được sử dụng dưới dạng gel tinh thể trong suốt, có khả năng tự hủy (Restylane, Esthelis, Purngen...), tiêm vào trong da hoặc trong lớp dưới da với một lượng nhỏ tương tự như collagène. Kết quả mang lại tức thì và kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm.

Hyaluronic acid là chất được tổng hợp, không có nguồn gốc động vật nên gần như không gây phản ứng dị ứng với cơ thể. Không cần thử trước khi chích. Không cần test trước khi điều trị. Thời gian cho thao tác chích khoảng 30 phút đến 1 giờ tùy theo số vùng cần sửa chữa.

Chất đồng phân của nước: polyarcylamid gel

Xuất phát từ hydrogel, một hợp chất đồng phân của nước, các nhà nghiên cứu đã cải tiến nhiều trong những năm gần đây để sản xuất được những chất tương tự nhưng an toàn hơn (Aquamid, Kosmogel). Ưu điểm của polyacrylamid là tồn tại trong mô lâu hơn các chất trước. Chế phẩm có dạng gel cũng dùng chích dưới da.

Cấy mỡ

Cấy mỡ được thực hiện bằng cách sử dụng các tế bào mỡ của chính người được cấy. Hiệu quả của cấy mỡ tùy thuộc nhiều vào kỹ thuật cấy: cách lấy mỡ, chế biến mỡ (mỡ tươi hay trữ lạnh), cách chích cấy nhiều hay ít, nông hay sâu, nhiều lớp hay ít lớp và số lượng mỡ có thể chích mỗi lần. Nói chung, phương pháp cấy mỡ rất an toàn, không dị ứng, không đào thải, giữ được kết quả rất lâu dài. Thông thường lượng tế bào mỡ sống ở nơi được cấy mỗi lần khoảng 50% - 60%. Để đạt kết quả như ý cần cấy 2 - 3 lần. Vùng cấy có thể rộng lớn (như cấy vào vùng ngực để có hiệu quả như đặt túi ngực, vào vùng má để má bầu bĩnh hơn...). Vùng cấy đẹp thường đầy đặn, mềm mại tự nhiên. Nhược điểm của phương pháp này là khó dùng ở những nếp nhăn nhỏ, tế nhị, ở những vùng da mỏng như mi dưới. Cùng với cấy mỡ cần làm thêm một phẫu thuật hút để lấy mỡ.

Các chất như collagène, hyaluronic acid... khá đắt, khoảng vài trăm đô-la Mỹ một phân khối, chưa tính chi phí cho thao tác chích. Mỗi phương pháp, mỗi chất làm đầy đều có ưu và nhược điểm. Khách hàng cần được bác sĩ tư vấn kỹ để chọn cách thích hợp. Sự phối hợp nhiều phương pháp một các hợp lý sẽ đem lại kết quả mỹ mãn hơn.

Tiến sĩ - bác sĩ LÊ HÀNH     
Trưởng khoa phẫu thuật thẩm mỹ,
BV Chợ Rẫy, TP Hồ Chí Minh

Có thể bạn quan tâm