Cuốn sách gồm 14 phần nhưng có thể chia làm hai phần lớn: Sư đoàn 341 trong chiến dịch Mùa xuân năm 1975, giải phóng Sài Gòn và Quả đấm thép trên mặt trận Tây Nam. Tác giả chia sẻ: “Với tôi, thời gian sống, chiến đấu và công tác ở Sư đoàn 341 không dài. Song, đó là quãng thời gian ghi dấu ấn nhiều nhất trong ký ức tôi. Có thể nói đó là một đoạn đời đẹp nhất trong cả cuộc đời…”.
Đầu Xuân năm 1975, Sư đoàn 341 nhận lệnh hành quân vượt chặng đường 1.500 km đến chiến trường B2 (Đông Nam Bộ) với thời gian một tháng. Trên đường hành quân, sư đoàn đã nhận được lá thư thăm hỏi, động viên ân cần và sâu sắc của đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Trong thư có dòng thơ sau “... Đánh tan quân giặc hung tàn/Ngày về thống nhất Bắc-Nam một nhà”. Lời dự báo của đồng chí Lê Đức Thọ đã thành sự thật chỉ hai tháng sau đó.
Vào đến chiến trường, Sư đoàn 341 được Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ chiến đấu trong đội hình Quân đoàn 4 với nhiệm vụ tác chiến bảo vệ vùng giải phóng; vừa chiến đấu vừa huấn luyện, xây dựng đơn vị làm lực lượng chủ lực, sẵn sàng cơ động trên mọi địa bàn.
Thời điểm này, chính quyền Sài Gòn đã xây dựng tuyến phòng thủ Xuân Lộc nhằm ngăn chặn quân ta tiến về Sài Gòn theo hướng Đông. Trước sức tiến công như vũ bão của quân giải phóng, “cánh cửa thép” Xuân Lộc bị đập vỡ tan tành, mở toang hành lang tiến về Sài Gòn theo quốc lộ 1.
Sau chiến thắng Xuân Lộc, Sư đoàn 341 được vinh dự là đơn vị nổ súng mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tiêu diệt yếu khu Trảng Bom và căn cứ Suối Đỉa án ngữ trên quốc lộ 1. Sau đó, đánh tan tuyến phòng thủ Hố Nai, giải phóng Biên Hòa và cùng các đơn vị bạn, Sư đoàn 341 tiến vào Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975.
Hòa bình vừa trở về trên đất nước mới hơn hai năm, thì ngày 4/11/1977, chính quyền phản động Khmer Đỏ công khai tuyên bố tiến hành chiến tranh chống Việt Nam. Sư đoàn 341 tiếp tục nhận sứ mạng thiêng liêng bảo vệ biên giới Tây Nam đã cùng với các đơn vị bạn bẻ gãy những đợt tấn công quy mô lớn từ quân lính tập đoàn Pol Pot vào các tỉnh Tây Ninh, Long An, An Giang, Đồng Tháp và Kiên Giang. Những ngày tháng kiên cường đó vẫn in đậm trong anh bộ đội Đậu Thanh Sơn.
Tác giả nhớ lại: “Trong 457 ngày đêm lăn lộn trên chiến trường, dọc theo các tỉnh có đường biên giới giáp Campuchia, họ đã chịu đựng biết bao gian khổ. Biết bao cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh quên mình khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ đã làm nên những chiến công oanh liệt và vẻ vang. Máu đào của cán bộ, chiến sĩ đã tô thắm thêm lá cờ truyền thống vẻ vang của Sư đoàn và của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng”.
Ngày 7/1/1979, tập đoàn Pol Pot bị đánh đổ, nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, giành lại quyền được sống, quyền làm người và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, dân chủ. Đây là chiến thắng của chính nghĩa, thắng lợi vĩ đại của nhân dân và cách mạng Campuchia mà Quân đội nhân dân Việt Nam đã góp phần xương máu làm nên, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 341 (Đoàn Sông Lam).
Cuốn sách Sư đoàn trong ký ức tôi mang đậm tính hồi ức một thời quân ngũ của một chiến sĩ trực tiếp chiến đấu ở chiến trường. Đọc hết cuốn sách, người đọc cảm nhận tinh thần vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ của Bộ đội Cụ Hồ trong chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì nước, vì dân và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả. Cuốn sách của người lính-tác giả Đậu Thanh Sơn góp phần bổ sung vào mảng hồi ký, ký sự lịch sử, phản ánh chân thực cuộc chiến tranh giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta...