Ông tên thật là Nguyễn Thiên Lương, thứ nam của nhà văn hóa Nguyễn Tử Siêu nổi tiếng đất Hà Tây, đi giao liên từ năm 14 tuổi, năm 1954 được điều lên Tây Bắc tham gia chiến dịch Trần Đình (bí danh của Điện Biên Phủ) với chức vụ Tiểu đội trưởng bộ binh Tiểu đội I đại đội 261 Trung đoàn 102 Đại đoàn 108.
Ông phải đi tản cư sớm nên chưa qua bằng sơ học, vào bộ đội còn viết chữ chưa thông mà vẫn làm thơ "Hôm nay ta ở Phu Luông/ Ngày mai ta lại vượt sang Đông Hà/ Đường đi Nà Sản bao xa/Tây ơi ta quyết làm ma chúng mày!". Không ngờ bài thơ được in lịch năm 1955 của báo Quân đội Nhân dân . Đang chỉ huy trung đội mẫu ở Bắc Ninh thì cấp trên gọi đi trường sĩ quan lục quân. Vào thi, họ tuyển văn hóa toàn lớp 7 trở lên, thấy mọi người ngồi làm toán, ông hoảng lên, liều tả cảnh gà mẹ dẫn đàn con đi ăn. Rớt thẳng cẳng. Bị trả về vì kém văn hóa. May vì là Chi ủy viên, chiến sĩ thi đua của Sư đoàn nên được Đại đội trưởng Hùng Sơn em rể Đại tướng Võ Nguyên Giáp can thiệp với hiệu trưởng Lê Trọng Tấn đặc cách cho học. Tốt nghiệp ra trường gặp đợt ta cho ra quân tám vạn, ông về làm trợ lý thi đua Bộ Công nghiệp nhẹ cho tới năm 1964 thì tái ngũ, vào thẳng chiến trường Tây Nguyên.
Ông đã nằm khắp các cánh rừng Gia Lai, Kon Tum, Đác Lắc, đóng quân lâu nhất ở đèo Mang Yang. Hết Pháp hết Mỹ lại tới chiến tranh biên giới Tây Nam, ông đánh nhau mãi tới năm 1980 mới ra quân hẳn, 1982 lấy vợ.
31 năm quân ngũ may sao ông toàn bị thương nhẹ, Có điều bị bom ép hầm chữ A nên một tai thủng nhĩ, giờ một mắt bằng 0, mắt còn lại được 3/10, dạ dày cắt một đoạn.
Hồi học Lục quân ông đã sáng tác nhiều truyện ngắn, đoạt giải cuộc thi viết về kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội.
Vào Tây Nguyên ông mới bắt đầu viết về chiến tranh.
Chưa một lần được học về lý luận sáng tác, nhưng vốn sống và cảm xúc trong người cứ bùng ra, thế là viết thôi.
Năm 1974, ông trong đoàn 20 cán bộ hậu cần của mặt trận B3 lội rừng cả tháng trời ngược ra Bắc để nhận hàng viện trợ, thuốc men, vũ khí, quân phục, được báo Nhân Dân mời xem phim "Mở đường thắng lợi" ở 71 Hàng Trống. Ông Hồng Hà Tổng Biên tập hỏi ý kiến, ông nói liền "ở Tây Nguyên rừng động kiểu đó khỉ chạy ba ngày tìm không thấy, voi lại tối kỵ tiếng động cơ và mùi xăng dầu. Thế mà làm phim lại dựng cảnh xe ben ủi gốc cây, trên ngọn cây khỉ ngồi, rồi ô-tô sa lầy voi kê ngà vào đẩy (!) Không thật tí nào!".
Ông về nhà người anh đường Yên Phụ, trẻ con khu tập thể kéo sang đòi kể chuyện miền nam. Nghĩ bụng: chuyện đánh nhau, bom đạn đâu chẳng có, thôi kể chuyện đi săn thú cho vui. Thế là kể. Thoạt đầu có dăm ba đứa con nít, sau chúng đến chật nhà. Gần chỗ ông ở có người làm ở Nhà xuất bản Kim Đồng, tên Vũ Cẩn (hoặc Vũ Cận) khuyên ông nên viết truyện. Thế là ngày ông đi nhận hàng, đêm về viết hối hả. Năm đêm liền viết xong hơn trăm trang, không kịp đọc lại, giao cho ông Cẩn rồi hành quân vào nam. Sau giải phóng khá lâu, bữa nọ tình cờ ghé vào cửa hàng sách huyện Krông Buk, thấy: ô sách tên mình! Hào hứng quá, ông về sáng tác hăng say.
Nhiều nhà xuất bản lần lượt in sách của ông: NXB Kim Đồng tám cuốn, NXB Dân tộc bốn cuốn. NXB Quân đội Nhân dân hai cuốn, rồi sách sử viết cho các địa phương, rồi được trích in trong sách giáo khoa các lớp 2, 4, 5. Bây giờ sức khỏe kém rồi, mỗi ngày sáng làm việc ở Hội Cựu chiến binh, chiều ông chỉ còn viết được mươi trang.
Tôi hỏi: "Thú rừng Tây Nguyên" tái bản cả chục lần. Cuốn " Chim Tây Nguyên" in năm 1986 đến 61.000 bản. Cuốn "Phân đội voi dũng sĩ" mới năm 2002 cũng in đến 12.420 bản. Thế nhuận bút...
Ông cười xòa: Nào có đáng gì. "Thú Rừng Tây Nguyên" mỗi lần tái bản được vài trăm ngàn. Nhuận bút cuốn "Cao Nguyên thất thủ" chỉ mua được cái tủ gỗ. Tấm món nhất chỉ có "Phân đội voi dũng sĩ" năm ngoái nhận được sáu triệu ấy thôi. Nhưng sáng tác vui lắm cô ạ. Tôi vừa in "Miền đất có ma trơi" , lại viết tiếp tiểu thuyết "Hoàng hôn đỏ".
Chào ngài đại úy về hưu. Nhìn ông tất tả nhanh nhẹn yêu đời sau khung cửa loang lở vết sơn tôi nghĩ: Chỉ một lần sống và chiến đấu với Điện Biên, Thiên Lương đã mãi mãi là nhà văn - chiến sĩ.