Lịch sử và hành trình trên kênh
Kênh Vĩnh Tế chảy dài từ Châu Ðốc đến Hà Tiên, thông từ miền Thất Sơn ra biển Ðông, ngót nghét 100 km, mà An Giang là tỉnh đầu nguồn. Năm 1802, sau khi lên ngôi, Gia Long bắt tay vào thực hiện kế sách quan trọng, với công trình trọng tâm là đào kênh khơi nguồn nước ở miền Tây Nam Bộ, nhằm đẩy mạnh việc khẩn hoang, giữ vững an ninh quốc phòng ở vùng đất mới.
Năm 1818, Gia Long đã hạ lệnh cho trấn thủ Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thoại, huy động hơn hai nghìn sưu dân nạo vét kênh Thoại Hà, bề ngang 20 tầm, bằng 51 m (một tầm = 2,56 m) bề dài tới Giang Thành Rạch Giá 12.400 tầm (31.774 m), rộng hơn mười trượng (khoảng 40 m), sâu 7,8 m. Sau hơn hai tháng, kênh hoàn thành, mang lại kết quả đáng kể trong sản xuất nông nghiệp và giao thông đường thủy, dẫn nước ngọt và phù sa sông Cửu Long bồi bổ những nơi bị nhiễm phèn, mặn... Tháng 10-1819, Gia Long lại chủ trương xúc tiến đào kênh Vĩnh Tế, vẫn do Nguyễn Văn Thoại chịu trách nhiệm, với lực lượng hơn mười nghìn sưu dân, lao động cật lực suốt ngày đêm, lúc khẩn trương, sưu dân lên đến gần mười vạn người.
Lúc bấy giờ, khoảng đất gần chân núi Sam và Thất Sơn, rất nhiều đoạn có đá ngầm, sưu dân phải dùng chày mà đóng trên lưỡi xuổng bằng sắt, hoặc đốt nổ cho đá văng lên. Do đó, có nhiều tai nạn xảy ra. Nơi đây lại có nhiều thú dữ, rắn rết, cá sấu, cá nược... nhất là về mùa khô thiếu nước ngọt trầm trọng, còn mùa nước lên thì tràn ngập lênh láng. Gia Long đã ban chiếu chỉ, động viên sưu dân tham gia việc đào kênh hãy: "Vì kế sách lớn của Nhà nước mà cố gắng" (Ðại Nam Thực Lục Chánh Biên). Song song, Nguyễn Văn Thoại còn cấp phát tiền, gạo, thuốc uống, để bảo đảm tốt sức khỏe cho sưu dân làm việc.
Khi Gia Long mất, Minh Mạng nối ngôi vào năm 1823, tuyến kênh đào trở nên khó khăn, do đó Minh Mạng lại tăng cường cả Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Ðịnh (coi toàn Nam Bộ) trực tiếp chỉ huy công trình. Ðến năm 1824, mới giao lại cho Nguyễn Văn Thoại.
Việc tổ chức đào kênh rất chặt chẽ và mang tính khoa học cao. Muốn cho tuyến kênh được thẳng, Nguyễn Văn Thoại đề cử số võ quan chuyên việc đào kênh, ban đêm phải rẽ lối rạch hoang, đốt đuốc, nêu trên nhiều cây sào cao để nhắm đường thẳng mà cắm hoặc lựa chốt cây cao mà nhắm hướng. Ðào hai con kênh ấy trong thời kỳ lao động thô sơ bằng tay chân, quả là chuyện thần kỳ, có giá trị chiến lược quốc phòng, kinh tế lâu dài, đến nay còn là tụ điểm văn hóa đáng quan tâm.
Trải qua năm năm (1819 - 1824) con kênh được hoàn thành, thẳng tắp nối liền Châu Ðốc tới Hà Tiên, vua Minh Mạng cho lấy tên vợ chánh của Nguyễn Văn Thoại là Châu Vĩnh Tế, để đặt tên cho con kênh lớn nhất Nam Bộ. Từ đó, tên các xã, ấp lân cận Núi Sam đều do chữ Vĩnh đứng đầu mà đặt tên cho các xã, cụ thể như: Vĩnh Tế, Vĩnh Ngươn, Vĩnh Mỹ...
Từ xưa, kênh Vĩnh Tế đã là một công trình quan trọng về quốc phòng, bảo vệ biên giới Tây Nam, đồng thời là một công trình kinh tế. Ngoài ra còn là con đường dẫn thủy nhập điền khai thác đồng bằng Thất Sơn, vùng tứ giác Long Xuyên, đã được tiền nhân xác lập qua (Thực Lục Chánh Biên, quyển 2, tờ 492): "Xứ này nếu mở đường thủy thông đến Hà Tiên thì hai đàng thông thương đều lợi. Trong tương lai, dân đến càng đông, đất càng mở rộng, sẽ thành một trấn to vậy...".
Sau khi hoàn thành con kênh, vua Minh Mạng xuống chiếu chỉ cho quan Huấn Ðạo Nguyễn Văn Khuê, soạn bài văn tế: "Thừa Ðế lệnh, tế cô hồn Vĩnh Tế tân kinh", do đích thân Nguyễn Văn Thoại chủ lễ, đọc trong buổi chiêu hồn những người đã chết vì công cuộc đào kênh. Từng câu, từng chữ kể công đức những anh hùng lao động thân yêu đột ngột qua đời, rất ngậm ngùi nức nở.
Kênh Vĩnh Tế đã đem lại nhiều lợi ích cho miền Tây Nam Bộ, trong việc khai khẩn ruộng đất vùng tứ giác Long Xuyên, vốn là vùng trũng có gần một triệu héc-ta đất đai được thuận tiện trong công tác thủy lợi nhiều mặt về tưới, tiêu... Ðồng thời giúp ích trong giao thông vận tải rút ngắn thời giờ, thay vì phải đi vòng vèo ngã Cái Sắn - Cần Thơ.
Trong chiến tranh chống Pháp, đuổi Mỹ, theo kênh Vĩnh Tế nhiều binh đoàn xuất phát từ biên giới Tây Nam đánh tan đồn bốt giặc.
Với công trình bề thế này, Nguyễn Văn Thoại được vua phong tước "hầu" (Thoại Ngọc Hầu). Chánh quán huyện Diên Phước (Quảng Nam) sau khi mất, thi hài ông được mai táng tại chân Núi Sam, Châu Ðốc. Hiện nay, Sơn Lăng của Thoại Ngọc Hầu được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử quốc gia.
Vĩnh Tế Hà trong Cửu đỉnh
Bia Vĩnh Tế Sơn được khắc 730 chữ chép về ơn vua, công lao đào kênh, trong đó, đoạn cuối tả cảnh đẹp của kênh: "Ðến nay, ánh sáng sớm sương tan, bóng chiều tà rán rọi, cây rậm rạp khoe xanh, cỏ là đà phô thắm. Bụi sạch trên đường lên cao ngắm nghía dòng sông trải lụa, khách đi qua buông chèo nhàn ngoạn, tay trỏ non xanh cùng với nhau: Ðây là Núi Vĩnh Tế (Núi Sam) do vua ban tên đó".
Sau khi Thoại Ngọc Hầu mất bảy năm, đến năm 1836, triều đình nhà Nguyễn cho đúc Cửu đỉnh, công trình nghệ thuật bằng đồng, dùng làm biểu tượng cho sự giàu đẹp, thống nhất đất nước và ước mơ ngàn đời của dân ta, để làm quốc bảo, vua cho chạm hình kênh Vĩnh Tế vào Cao đỉnh với hình ảnh dòng kênh Vĩnh Tế lăn tăn gợn sóng bên dãy Thất Sơn lô nhô trùng điệp, điểm xuyết lác đác những gò đất, lùm cây. Trên bờ kênh có ba chữ "Vĩnh Tế Hà" chạm khắc chữ Hán khá sắc sảo, rõ ràng.
Nếu Thoại Hà là con kênh đào tay đầu tiên ở miền Tây Nam Bộ thì Vĩnh Tế là con kênh đào tay dài nhất nước ta. Vậy mà nó vẫn chưa được đánh thức để các nhà đầu tư du lịch khai thác có hệ thống ngõ hầu tạo điều kiện trở thành điểm du lịch sông nước - văn hóa - lịch sử khẩn hoang phương Nam. Ðây là kỳ công của tiền nhân cần được nghiên cứu đưa vào sử dụng có bài bản sẽ là điểm du ngoạn hấp dẫn và lý thú vô cùng.
Mong rằng các ngành chức năng nên quan tâm khai thác đúng mức để dòng kênh Vĩnh Tế được du khách trong và ngoài nước biết đến một di tích văn hóa lịch sử kinh tế chiến lược ở Việt Nam.