ND - Chỉ là cái lu nước bên đường, nhưng bao đời nay luôn đầy ắp tình người. Mong sao tấm lòng thơm thảo của mỗi người sẽ từ đó mà nhân ra, trở thành tình thương và lòng nhân ái của mọi người. Xã hội còn phát triển, và một ngày cái xấu còn lẩn quất đâu đây, thì những giá trị nhân văn như vậy còn cần phải được bảo tồn.
Hôm mới rồi, về hai huyện Mỏ Cày, Thạnh Phú (Bến Tre), thấy ven đường có đặt những lu nước, lại có cái gáo dừa gác lên trên, tôi nhớ tới một tập quán đã hình thành từ xa xưa trong cuộc sống của cư dân xứ này.
Dừng chân, ghé thăm một gia đình ở ấp Minh Nghĩa, xã Ngãi Ðăng (Mỏ Cày), thấy cái lu được đậy cẩn thận, nước đầy ắp, trong vắt và sóng sánh. Chủ nhà đã gần bảy mươi, ông là Võ Văn Paul, con cái đều đã trưởng thành. Ông bảo:
- Nhiều đời nay, gia đình tôi vẫn để lu nước trước nhà, giúp khách đường xa có nước sử dụng.
Ngày nào cũng vậy, thời còn trẻ thì ông tự làm, còn bây giờ, ngày vài lần ông nhắc con cháu ra xem cái lu, nếu nước vơi thì lại rót cho đầy. Người qua đường ghé vào dùng nước. Người quen thì chuyện trò vài câu, người lạ thì nói lời cảm ơn, còn chủ nhà thì tự coi là trách nhiệm của mình.
Bây giờ, cuộc sống khấm khá hơn, quán giải khát san sát bên đường, tục xưa chưa mất, nhưng số gia đình đặt lu nước trước cửa xem ra đã ít đi. Và có một điểm khác trước là một số gia đình không sử dụng lu sành mà dùng thùng inox có vòi vặn hẳn hoi, với một cái cốc nhựa sạch sẽ đặt bên cạnh.
Trong ký ức của nhiều người dân Bến Tre, cái lu sành mầu da bò, cái gáo dừa đen bóng của ngày xưa vẫn để lại bao điều tốt đẹp. Ở vùng này, lu sành dùng đựng nước vừa có tác dụng làm mát, vừa tránh cho nước khỏi bay hơi.
Ngày nọ, tôi qua vùng sinh sống của bà con người Khmer ở Tịnh Biên (An Giang). Ði một đoạn đường vài cây số lại thấy một cái chòi nhỏ, không có tường xây hay vách lá, trong lều có lu đựng nước, có nải chuối chín vàng treo trên cột, có hai chiếc ghế dài, lại có cả mấy chiếc quạt làm bằng lá thốt nốt xinh xắn.
Ði giữa vùng đất nóng và khô khát, cát trắng mênh mông mới thấy giá trị của những cái chòi. Người đi đường ghé vào dùng chút nước mát, quạt cho ráo mồ hôi, nếu có ngót dạ thì làm thêm vài quả chuối, rồi đi tiếp. Cũng chẳng biết người đã cho nước vào lu, đã treo nải chuối là ai, nhưng trong lòng thì thầm biết ơn.
Về sau tìm hiểu mới biết, bà con Khmer ở các phum, sóc trong vùng cắt cử theo từng hộ gia đình, luân phiên tiếp nước, tiếp chuối, sửa chữa căn chòi nếu chẳng may hỏng hóc. Lại nhớ đến những dòng chữ của một tác giả mà tôi đã đọc trên diễn đàn của website nguoiangiang: "Ngày xưa, ngày mới chuyển lên Châu Ðốc, ở nhờ nhà dì để tránh lũ, để đi học được dễ dàng hơn. Toàn là đi bộ. Một tuần học chiều, một tuần học sáng. Mà ở nhà dì thì buồn quá, mấy anh chị toàn lớn cả, vả lại... Thế là đi học sớm, đem theo một chai nước nhỏ để vô lớp uống thôi. Còn dọc đường à, sướng lắm nhe, khát lúc nào, lại ghé ngang qua cái trại mộc ngay chân cầu Lò Heo, hình như là trại mộc Kim Long thì phải, múc miếng nước mát lạnh trong lu mà uống. Sướng trời mây. Bên kia chân cầu cũng có lu nước. Cứ một khoảng lại có một lu nước để ngay trước nhà. Hóa ra ngày xưa, thời thơ ấu của ông, người ta đã đặt những lu nước ấy dọc theo triền núi Sam, để ai có nhu cầu là có nước dùng. Người dân làm vậy như là một hành động nghĩa, của những người lúc nào cũng sẵn sàng đùm bọc lẫn nhau. Những người dân làng núi Sam khi xưa nghĩa tình là thế".
Đường làng Bến Tre.
Ở Bến Tre quê tôi cũng thế, từ xa xưa trước thềm mỗi nhà đều có sẵn một lu nước mưa trong vắt, mát lạnh, được hứng từ mái lá đã để lâu cho bớt "mùi nắng", chỉ còn lại dư vị ngọt ngào và thoang thoảng mùi lá. Người qua đường cứ tạt vô vục đầy gáo mà uống. Ðường xa nắng gắt được gáo nước mưa xem như "bắt được vàng".
Ngày trước, đồng ruộng rộng mênh mông, nhà cửa thưa thớt, đường sá xa xôi; quán hàng hầu như không có, đường giao thông thì không thuận tiện. Không chỉ đi làm, mà cả đi chợ, đi thăm họ hàng nữa... nếu không có sông nước, kênh rạch thì bà con chủ yếu đi bộ. Mùa nắng nóng, đi qua quãng đường dài, khách bộ hành thường phải ghé vào nhà ai gần đường để xin nước.
Dân xứ dừa thông cảm với nỗi khổ của người đi bộ đường xa, nên bảo nhau mua cái lu sành thường là có mầu da bò, có nắp đậy bằng hoặc chằm miếng lá vuông đậy cho bụi khỏi bay vào, trên nắp để một cái gáo dừa cán ngắn. Trên đường, cứ cách khoảng vài ba cây số lại đặt một cái lu. Nước mưa ngọt lịm, trong veo, ai khát cứ uống, không phải hỏi xin chủ nhà.
Cho đến ngày nay, nhiều gia đình ở Bến Tre vẫn giữ được tục này. Ngay ở thị xã Bến Tre tôi cũng đã gặp, như nhà cô giáo Thái Anh Phương Trinh. Nhà cô ở phường Phú Khương trong thị xã, cô dạy ở trường cao đẳng Sư phạm tỉnh. Ngang qua nhà cô, tôi cũng thấy đặt một cái lu đựng nước cho khách qua đường.
Lâu nay đường sá mở mang ra nhiều, xe cộ đông đúc, phương tiện đi lại phong phú, người đi bộ cũng ít đi, mà phần lớn người đi bộ đường xa đều là người nghèo. Vì thế cái lu nước của mỗi gia đình lại càng có ý nghĩa đối với họ. Tôi hỏi bà chủ nhà có cái bình inox đựng nước mưa để cạnh đường. Bà kể:
- Nhà tôi để lu nước như vậy từ bao giờ chẳng nhớ, thời ba má tôi đã để đó rồi. Cái lu sành chẳng may bị vỡ, tôi đi mua cái bình inox, sáng nào ngủ dậy tôi cũng ra xem thùng nước có đầy không. Ðến mùa nước mặn, phải đi mua nước ngọt về dùng, đắt lắm, nhưng hằng ngày nhà tôi vẫn để nước ở đó cho bà con lối xóm.
Tỉ mẩn, tôi thử tìm đọc trên báo chí, thì ra không phải chỉ riêng quê tôi hay ở Tịnh Biên, mà ở nhiều nơi trên đất nước mình, vẫn còn những lu nước đặt trước cửa dành cho người qua đường.
Có bạn kể: Mới đây tôi có công việc chạy xe ngang qua đường Bình Thới, quận 11, TP Hồ Chí Minh. Bất chợt tôi nhìn thấy bên lề đường có tấm bảng nhỏ ghi dòng chữ “Trà đá miễn phí” và phía dưới là một bình đá để trên cái ghế, có hai cái ly. Tò mò tôi dừng xe xem thử, vừa lúc đó cũng có hai người chạy xe xích-lô ghé vào uống. Tôi nghe hai bác chạy xe xích-lô nói: "Giữa trưa nóng nực mà uống ly trà đá vào thì ngon hết biết".
Hỏi ra mới biết ngày nào họ cũng ghé qua đây, uống riết rồi nghiền, vừa đỡ khát lại vừa không tốn tiền. Cô cậu chủ nhà còn rất trẻ, họ để thùng trà đá trước cửa cho những người qua đường. Bác lái xe ôm, xe xích- lô, người mua ve chai, bán vé số, bán dạo và những công nhân vệ sinh ghé uống. Tôi cũng uống thử một ly và cảm thấy thật mát lòng mát dạ trước tấm lòng của chủ nhà dành cho những người lao động nghèo khó.
Rồi bạn khác thì mô tả rằng mặt tiền của tiệm Phong Hưng quay ra hướng đông chợ Tri Tôn: "Trước nhà là lu nước lớn có nắp bằng cây đậy để tránh bụi bặm, con nít chạy chơi chừng nào khát nước thì chạy ra đó lấy cái ca múc uống... gần hết nước thì ông Từ Hải chở thêm từ giếng nước ở Chơn Num về đổ cho đầy. Nước này uống được, bà con ai muốn xài thì xài, Tỉa Năm trả tiền, quanh năm suốt tháng. Con cảm ơn Tỉa Năm".
Lại nhớ bài bút ký Hiên trước nhà một bà già tốt bụng của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Chị kể về một bà má ở xóm Chẹt: Tôi không nhớ rõ khuôn mặt của bà, có thể mặt bà đầy những nếp nhăn, có thể lưng bà còng, có thể bà cũng nhai trầu bỏm bẻm như bao nhiêu bà má quê khác. Cái tôi mường tượng rõ nhất là đằng trước nhà bà, chỗ sát hàng ba, lúc nào cũng có cái lu nước mưa với bộ vạc cau và hai cái đôn sứ hình con voi đã gãy mất vòi.
Hồi đó, lần nào đi học ngang tôi cũng ghé lại. Uống một gáo nước mát dạ lúc khát khô, ngồi nghỉ cho chân đỡ mỏi vì đường xa, đụt mưa, trốn nắng.
Ðã bao nhiêu năm, bao nhiêu lượt người ghé lại, đám học trò nhỏ ngày xưa đã sắp bạc tóc dài râu, qua nhà lại nhớ bà, già mà thiệt thính tai, nghe chúng tôi khỏa gáo đã biết nước dựt tới đâu, mau mau hối con cháu châm đầy cho tụi nhỏ dễ múc. Cái nắp lu bằng sành bà sợ nặng, ngồi tỉ mẩn chầm lá để đậy, nên nước trong lu mát lạnh tới tận óc, ngọt ngào, lại thơm thoang thoảng mùi cà bắp của đám dừa nước ven sông. Cái gáo đen mịt cúi đầu chổng mông lên cây trúc cặm kế bên cũng thơm ngây ngấy mùi gỗ đã ngâm nước lâu ngày...
Nhà bà đã một lần bị bom, một lần bị bão, mấy đận cất mới, mấy lượt sửa sang, nhưng có thay đổi mấy bà vẫn nhắc con giữ nguyên cái lu với bộ vạc. Và một ngọn đèn, ừ, thêm một ngọn đèn chong...
Ðèn chỉ tắt những đêm tối trời, trăng sáng rồi thì cháy đỏ một tháng hai mươi mấy ngày.
Hồi đó, đồn Chẹt đóng kế bên nhà, hễ chạng vạng là đám lính thấy bà đem cái đèn (loại dùng để đặt đó) ra treo ngoài hàng ba. Bọn giặc sợ, theo tra hỏi hoài, "Làm ám hiệu gì cho Việt Cộng vậy bà già, hay là soi đèn cho tụi nó bắn tỉa tôi?". Bà cười ung dung: "Ám hiệu ám hiếc gì đâu, tui treo đèn là để mấy đứa nhỏ đi đêm khỏi sợ". Ðèn nhỏ, ngọn lửa chỉ le lói đỏ nhưng lạ lùng, đêm càng tối đèn càng sáng lung linh. Cái vầng sáng đó hắt ra tới tận bờ lá, nhuộm hồng cả một khúc đường.
Tối nào má tôi sai đi mua dầu hôi, nước mắm ở quán chú Sồi, tôi cắm đầu chạy đến đây thì dừng lại thở, nhìn cái đèn với một lòng biết ơn mênh mông. Tôi thắc mắc sao ai cũng cần ánh sáng mà lính đồn Chẹt thì không?...".
Cha ông đã sống với nhau như vậy đấy, đầy ắp tình người và đã truyền dạy lại cho chúng ta. Mong sao tấm lòng thơm thảo của mỗi người sẽ từ đó mà nhân ra, trở thành tình thương và lòng nhân ái của mọi người. Xã hội còn phát triển, và một ngày cái xấu còn lẩn quất đâu đây, thì những giá trị nhân văn như thế còn cần phải được bảo tồn...