"Nghèo" vây lòng hồ
Chúng tôi ngược đèo lên phía bắc huyện trong cái rét se sắt cuối đông. Hộ Đáp, Sơn Hải và Cấm Sơn là bốn trong số 13 xã nghèo nhất huyện chia nhau quản lý bốn trong số năm phần bờ hồ (phần còn lại, nơi có cửa đập thuộc quản lý của huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn). Chiếc xe hai cầu có tuổi khoảng 20 năm, do tay lái lão luyện của Huyện uỷ lái chạy như lên đồng trên quãng đường 40km để đến Tân Sơn, xã đầu tiên trên vòng cung lòng hồ. Nữ bí thư Đảng uỷ xã Triệu Thị Ninh, dân tộc Dao, đón chúng tôi trong ngôi trụ sở khá khang trang. Anh Ngô Văn Đạo, Chủ tịch xã, trẻ măng vừa được bầu khoá vừa rồi vanh vách những số liệu chúng tôi yêu cầu như thể đã được chuẩn bị.
Tân Sơn dân số khoảng tám nghìn người, tỷ lệ hộ nghèo 65%. Riêng vùng lòng hồ dân số chiếm 1/3 cả xã, nghề chính là đánh bắt cá, tôm, cua, ốc, năm một vụ cấy được vài sào lúa khi nước hồ xuống thấp. Số hộ nghèo chiếm hơn 80% tổng số dân; về cơ bản thiếu gạo ăn ba đến sáu tháng mỗi năm; thi thoảng huyện, xã vẫn phải cứu đói. Điều đáng nói, Tân Sơn là xã trung tâm, có thể nói là có điều kiện khá nhất so với các xã còn lại quanh hồ. Điểm sáng duy nhất trong nhiệm kỳ cán bộ vừa qua, đối với cả xã, có lẽ là việc đã xoá bỏ được... chi bộ ghép. "Mỗi thôn, làng đã có chi bộ riêng, thuận cho việc triển khai thực hiện công việc cho Đảng uỷ, chính quyền hơn các anh ạ", đồng chí Ninh chia sẻ. Biểu hiện rõ nhất là trong công tác đảng, công tác chính quyền thời gian gần đây: Việc sinh hoạt thường xuyên và có chuẩn bị, báo cáo được hoàn thiện và gửi cấp trên kịp thời hơn; nhiệm vụ được giao triển khai nhanh và hiệu quả hơn.
Xã Cấm Sơn có diện tích lòng hồ lớn nhất, tổng số dân cư sống bám quanh hồ cũng đông nhất, và số người nghèo cũng nhiều nhất là điểm đến tiếp theo. Cả xã có một quán ăn duy nhất, được mở theo phiên chợ, tức là năm ngày một lần, mà phải đặt trước mới có thức ăn. Đồng chí Nguyễn Văn Tiếp, Bí thư Đảng uỷ, Nông Văn Phụng, Chủ tịch UBND xã đón chúng tôi tại trụ sở là ngôi nhà to nhất, có hai tầng của xã. Cấm Sơn có 4672 khẩu, 1064 hộ, trong đó 69% hộ nghèo, mà là nghèo kinh niên, nghèo cùng tận bởi suốt hàng nhiều chục năm qua chưa bao giờ những hộ dân nơi đây biết đến hai từ thoát nghèo. Nói đúng ra, bởi họ không có cơ sở nào để thoát nghèo. Được cái, vài năm trở lại đây, một phần do năng động của lớp cán bộ xã trẻ, khoẻ, phần nữa do có thêm nguồn thu từ rừng nên số hộ dân phải cứu đói hầu như không còn. Đó là nói đến các hộ dân vùng rừng chứ cư dân lòng hồ thì vẫn vậy. Quanh năm suốt tháng lênh đênh trên hồ bắt con tôm, con cá. Cũng có người khai hoang được ít đất trồng cây ăn quả đến mùa thu hoạch bán không được do chưa có đường đi đến chợ. Mà chở bằng thuyền thì tiền thu được không bù nổi tiền mua dầu chạy máy và công vận chuyển. Vậy là quả vải, na, ổi cứ rụng đen cả gốc, mặc cho ong rừng, ruồi vàng bu đầy. Nhìn cảnh đó, nhiều người nản, lại bỏ vườn, bỏ đồi xuống lòng hồ lay lắt bắt con cá đổi gạo qua ngày. Nghèo, lại vẫn cứ đeo bám dai dẳng với người dân nơi đây.
Xuất hiện trước chúng tôi trong bộ trang phục... dân quân tự vệ, Bí thư Đảng uỷ xã Hộ Đáp Vi Thành Bông cho biết anh vừa đi thăm lớp học ở dưới thôn Đồng Phai về. Ngày mưa, đường xấu nên đôi ủng lấm bê bết bùn đất đỏ quạch. Hộ Đáp có 861 hộ, khoảng 4300 khẩu, trong đó 63% hộ nghèo. Cư dân lòng hồ chiếm gần 80% dân số với 560 hộ. Điều đặc biệt là tỷ lệ hộ nghèo của xã tăng giảm theo chu kỳ, năm nào nước hồ thấp, người dân lấn hồ thêm được vài chục hecta trồng lúa thì năm đó số hộ nghèo giảm được một ít. Năm nay, thành tích giảm nghèo được gần 10% so với năm 2011 của xã, có "đóng góp" mang tính quyết định của việc nước hồ cạn, bà con tranh thủ cấy thêm được 30ha, sản lượng không cao nhưng khoảng chừng năm chục tấn lúa đối với xã vùng cao này quý giá biết nhường nào.
Xã Sơn Hải có năm thôn thì có hai thôn không có đường bộ, muốn đi đâu khỏi nhà bà con phải đi đò. Kèm theo đó người dân cũng không có điện, nước sạch, cần được chăm sóc y tế cũng rất khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo của xã trong năm nay ước tính khoảng 70%, giảm được 15% so với 2011, cũng phần nhiều nhờ vào việc nước hồ Cấm Sơn cạn, bà con cấy thêm được 30ha lúa. Trong câu chuyện cùng chúng tôi, đồng chí Giáp Hồng Đăng, Bí thư Đảng uỷ, Vi Văn Sáo, Chủ tịch UBND xã đầy ưu khi lý giải nguyên nhân nghèo...
Sức vươn nội lực...
Tất nhiên, không phải ai cũng trông chờ, ỷ lại. Trong vùng lòng hồ mấy năm gần đây đã có những hộ dân nhận đất giữ rừng, có hộ trồng cây ăn quả, trồng rau cũng đã cho thu nhập ổn định. Anh Nguyễn Văn Hùng, một trong những Robinson lòng hồ có một thời chuyên buôn cá đi Lạng Sơn đã bỏ nghề lên đồi trồng vải. Năm rồi, vải thiều được mùa nhưng tiền công thu hái cộng với tiền dầu máy thuê thuyền chở ra chợ bán vừa hoà vốn. Khoát tay một vòng quanh quả đồi mênh mông, xanh rì cây lá, anh ước "nếu có đường, chúng tôi chở thẳng đến điểm cân thì chắc lãi nhiều hơn". Có lẽ, từ bao đời nay, mong ước có được một con đường là niềm ao ước của hàng nghìn hộ dân nơi đây.
Đồng chí La Văn Nam, Phó Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn chỉ ra nguyên nhân các xã vùng lòng hồ Cấm Sơn "mãi vẫn nghèo", đó là: Điều kiện tự nhiên quá khó khăn; hạ tầng thấp kém; năng lực cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu; trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu, ý thức chủ động tự giác chưa cao. Bên cạnh đó, địa phương chưa có những đề án, kế hoạch mang tầm vĩ mô trong khi một số nguồn vốn đầu tư hiện có dàn trải, không phù hợp. Từ khi đắp đập ngăn nước đến nay, ngoài những hỗ trợ mang tính "cứu đói" cho nhân dân bốn xã vùng lòng hồ, huyện Lục Ngạn đã triển khai thực hiện một dự án Di dân tái định cư. Mục đích đưa các hộ dân đang sinh sống trong hồ và một số khu vực ven hồ không có điều kiện phát triển kinh tế tới địa điểm khác thuận lợi hơn. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, dự án không hiệu quả như mong muốn. Một số hộ sau khi đi khỏi lại trở về chỗ cũ với lý do nơi ở mới thiếu... đủ thứ, lại không thể bắt cá, tôm để tạm sống như trước.
"Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi chi bộ phải là một hạt nhân giảm nghèo, một điển hình phát triển kinh tế" là yêu cầu của Thường vụ Huyện uỷ Lục Ngạn đối với những Đảng bộ xã đặc biệt khó khăn. Nhiệm vụ đó trước hết phải ý thức tự lực thoát nghèo, tránh trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước. Nhiệm vụ là vậy, nhưng làm thế nào thì không phải ai cũng nghĩ ra và có thể thực hiện được.
Hầu hết các xã đều tìm mọi cách để cư dân lòng hồ sống được ngay chính tại hồ: tranh thủ lấn hồ cấy lúa; phát triển chăn nuôi gia cầm, thủy cầm hoặc trồng rừng sản xuất. Tân Sơn còn tìm hướng đi bằng cách liên hệ với các trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm cho con em đi làm công nhân, xuất khẩu lao động. Chủ tịch xã Hà Văn Đạo ao ước nếu khu vực bốn xã lòng hồ có được một nhà máy may nho nhỏ, có thể sẽ giúp cho hàng trăm hộ cơ hội thoát nghèo. Cũng có người nghĩ xa hơn là đầu tư cho con cái đi học lên cao đẳng, đại học, như ông Năng Văn Mái, trưởng thôn Phố Chợ Tân Sơn "dám" cho hai con gái đi học đại học; Ông Nông Quang Ngàn, hộ nghèo ở Cấm Sơn bán cả ruộng cho ba đứa con học đại học, cao đẳng; Anh Hoàng Văn Luyện, hộ nghèo ở thôn Bến (Cấm Sơn) cũng có hai đứa con học cao đẳng; ông Nguyễn Văn Chắn, hộ nghèo ở thôn Héo B, Lục Văn Choỏng, ở thôn Đồng Chùa xã Hộ Đáp cũng quyết bán cả ruộng, vườn cây để cho con đi học... Một vài năm gần đây, bốn xã lòng hồ cũng lác đác xuất hiện một số hộ tập trung sản xuất, kinh doanh cho thu nhập cao như ông Nguyễn Văn Khéo ở thôn Họa; Chu Văn Vị, ở thôn Bả (Cấm Sơn); ông Năng Văn Mái ở Tân Sơn; anh Nguyễn Văn Hùng ở Sơn Hải...
Và nỗ lực cộng đồng
Đổi thay từ trong nhận thức rõ nhất là thái độ, quyết tâm giảm nghèo của cấp uỷ, chính quyền. Từ đồng chí bí thư, chủ tịch đến bộ phận giúp việc đã chủ động đi tìm việc, tìm nguồn lực về cho dân. Lãnh đạo xã chủ động đề xuất, báo cáo huyện, tỉnh tập trung vốn làm công trình người dân cần. Cái gì cần hơn làm trước, nơi nào khó khăn hơn triển khai trước. Có xã còn chủ động mời doanh nghiệp về khảo sát tìm hướng đầu tư phát triển kinh tế lòng hồ. Là cán bộ, các anh thấm thía được nỗi khổ của sự nghèo. Hơn nữa, cũng xót xa cho đồng vốn của nhà nước dành cho xã nghèo lãng phí, thiếu hiệu quả vì đầu tư dàn trải, nhỏ giọt.
Tôi còn nhớ, trong chuyến đi thực tế vùng lòng hồ lần trước, Phó chủ tịch xã Cấm Sơn Trần Ngọc Thoại phải chạy đôn đáo tìm mượn một chiếc "chuyên cơ" chạy máy cole ậm ạch. Tính ra, nếu đi bằng chiếc xuồng đó từ điểm đầu đến mặt đập sẽ mất khoảng bảy giờ đồng hồ. Bảy giờ, ở thành phố người ta có thể làm được khối chuyện. Còn ở đây, cán bộ xã muốn đi hết các hộ dân sống bám quanh hồ, thời gian phải tính bằng tháng. Ấy vậy nhưng cả bốn xã lòng hồ không xã nào có nổi một chiếc xuồng máy ậm ạch chứ nói gì đến xuồng cao tốc. Thoại thở dài bảo quả tình là trước mỗi xã cũng có một cái, để cho cán bộ đi công cán, đi họp giao ban hằng năm trên một hòn đảo địa giới chung của bốn xã. Nhưng tiền xăng dầu không đủ, rồi thuyền cũ, máy hỏng không có kinh phí để sửa. Vậy rồi là bỏ.
“Bây giờ muốn đi đâu thì mượn, hoặc thuê, tính ra vẫn rẻ hơn "nuôi" một chiếc xuồng anh ạ. Còn những khi có việc đột xuất mà không tìm đâu được xuồng thì đành phó mặc cho... giời chứ biết làm sao. Bà con ở đây nghèo, nhưng thật thà, tình cảm lắm. Vả lại, ai cũng có sức khoẻ, chả dám ốm đau đến mức phải đi cấp cứu...”- anh Thoại nói.
Thực hiện nghị quyết của Huyện ủy Lục Ngạn, Ban chỉ đạo giảm nghèo huyện đã lựa chọn một số xã khó khăn nhất để ưu tiên tập trung đầu tư, thực hiện lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ. Điển hình như các công trình thuỷ lợi, giao thông góp phần chủ động sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm. Nhiều biện pháp hỗ trợ sản xuất trực tiếp cho các hộ dân căn cứ vào nhu cầu thực tế của từng hộ, thôn, bản đã được triển khai. Đội ngũ cán bộ khuyến nông được tăng cường cho các xã nghèo trực tiếp chuyển giao kỹ thuật sản xuất theo hướng “cầm tay chỉ việc”; khai thác tiềm năng đất đai để trồng rừng kinh tế gắn với chế biến lâm sản để tăng thu nhập; Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho xã nghèo. Nhiệm vụ củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên nhằm tạo động lực cho xã nghèo cũng đã được triển khai. Một số xã được bổ sung thêm một Phó chủ tịch phụ trách kinh tế như Cấm Sơn, Sơn Hải, Hộ Đáp bước đầu cho thấy được hiệu quả tích cực.
Ông Đỗ Xuân Bình, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Bắc Giang cho biết: Năm 2012 là năm đầu tiên triển khai thực hiện Chương trình phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh giai đoạn 2012-2015, trong đó có bốn xã lòng hồ. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo giảm trung bình hơn 10% nhưng tính bền vững còn thấp, việc nhân rộng mô hình điển hình phát triển kinh tế rất hạn chế. Tuy nhiên, sau khi cơ sở hạ tầng của các xã nghèo được hoàn thiện phục vụ sản xuất, chắc chắn mục tiêu giảm hộ nghèo cho các xã này xuống dưới 50% vào năm 2015 là khả thi.
Theo ông Bình, mỗi năm ngân sách tỉnh bố trí khoảng 20 tỷ đồng xây dựng một số công trình thuỷ lợi, trạm bơm, hệ thống kênh tưới tiêu phục vụ sản xuất của nhân dân các xã khu vực lòng hồ. Ngoài ra, từ nguồn vốn của chương trình mục tiêu xoá đói, giảm nghèo quốc gia, nhiều mục tiêu khác như đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm; phát triển y tế, văn hoá, giáo dục; chuyển giao khoa học kỹ thuật; công tác cán bộ... đã được triển khai đồng bộ và đồng loạt.
Quyết tâm vào cuộc "tấn công đói nghèo" của Đảng bộ, chính quyền, ban, ngành các cấp tỉnh Bắc Giang đang từng ngày cùng lòng hồ khởi sắc. Sắp tới đây, trục đường 279 nối Cấm Sơn với quốc lộ 1A hoàn thành, rồi một loạt đường giao thông liên thôn ở các xã đi vào hoạt động sẽ góp phần kéo người dân lòng hồ đến gần hơn no ấm. Tôi chưa dám mơ đến ngày Cấm Sơn lột xác thành một khu nghỉ dưỡng sinh thái sơn thuỷ hữu tình như ý tưởng của mấy anh bên ngành du lịch tỉnh. Tôi chỉ dám nghĩ đến một con đường cho quả na, quả vải của những người như anh Hùng, ông Quốc ra đến chợ còn tươi, được giá.