NDĐT - Lễ hội cầu ngư - cúng cá Ông Voi là một trong những lễ hội độc đáo, giàu tính nhân văn và mang đậm nét giao thoa văn hóa giữa các vùng đất, các tôn giáo khác nhau. Hiện nay lễ hội đã được phục dựng lại và tổ chức hằng năm tại Hội An, thu hút đông đảo du khách thập phương.
Lễ cầu ngư ở Hội An thường bắt đầu trước mùa đánh cá mới. Thực ra ở mỗi địa phương, lễ cúng cá Ông lại diễn ra vào một ngày khác nhau: Vùng Nam và Trung Trung Bộ là mùa mưa bão (được cho là thời gian cá ông dễ bị lụy); ở Nam Bộ là kết thúc mùa đánh bắt, hoặc nhiều khi chỉ là một ngày do người dân xin xăm được ở Lăng Cá Ông.
Sự giao thoa văn hóa đặc sắc
Từ những năm đầu của cuộc di dân “khai sơn lập ấp”, những người Việt từ xứ Đàng Ngoài vào Đàng Trong mang theo tôn giáo và kiểu thờ cúng riêng của mình, trong đó có thờ Mẫu. Khi vượt qua đèo Ngang, người Việt phía Bắc mang một cái nhìn khác về mặt tâm linh đối với biển, đồng thời họ cũng được tiếp cận với văn hóa và tín ngưỡng Chăm Pa, hình thành một tín ngưỡng mới đối với cư dân vùng duyên hải miền Trung: Thờ phượng cá Ông Voi.
Rước linh cá Ông từ lăng thờ.
Trong quan niệm của người đi biển, cá voi là vị thần cứu mệnh của ngư dân mỗi khi gặp sóng gió, bão tố, do đặc tính sinh học thường bơi nương theo các vật trôi nổi trên biển khi gặp bão. Dân biển thành kính tôn cá voi là cá Ông, giống như cách gọi Ông cọp, Ông Ba Mươi của người vùng rừng.
Tục thờ cá Ông Voi, theo nhà nghiên cứu Phùng Tấn Đông (Hội An, Quảng Nam), là sự giao thoa văn hóa và tín ngưỡng giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong, giữa tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt với thờ thần của người Chăm và ảnh hưởng của Phật giáo. Theo truyền thuyết của Phật giáo, cá Ông Voi chính là những mảnh áo cà sa của Đức Phật Bà Quan Âm ném xuống cứu những ngư dân đi biển gặp bão. Còn trong truyền thuyết của người Chăm, cá voi chính là hóa thân của vị thần Pô Riyak (còn gọi là Thần Sóng), vị thần bảo hộ cho con người trên biển.
Để nhớ ơn cứu mệnh của cá Ông Voi, hằng năm mỗi khi có cá Ông bị nạn dạt vào bờ (thường gọi là Ông lụy), ngư dân các vạn chài đều tổ chức lễ táng với các nghi thức linh đình, trọng thể như đối với một nhân thần. Sau ba năm, cốt cá Ông Voi được cải táng và đưa vào thờ tôn kính trong lăng.
Dọc bờ biển từ Đà Nẵng tới Chu Lai, có rất nhiều nghĩa địa và lăng thờ cá voi do ngư dân dựng nên từ bao đời nay, cho đến nay vẫn được thờ cúng, nhang khói đều đặn. Trong đền thờ, bộ xương cá Ông được gọi là “ngọc cốt”.
Thời Nguyễn, sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã phong sắc cho cá Ông là "Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần", tức vị thần tối cao của vùng biển phía nam và cấp “tiền tuất, ruộng tuất” cho những làng phát hiện cá Ông lụy.
Ý nghĩa nhân văn sâu sắc
Lễ cúng cá Ông bao gồm hai phần, phần lễ tế và phần diễn xướng. Lễ tế Ông do ban tư tế gồm các vị chủ tế cao niên trong làng đứng ra thực hiện. Trong ngày lễ, dân làng trang hoàng bàn thờ rực rỡ, tôn nghiêm. Các nhà đều đặt bàn hương án bày đồ lễ cúng, các tàu thuyền đều được chăng đèn kết hoa. Vị chủ tế dâng đồ lễ (không có hải sản) rồi đọc bài văn tế bày tỏ lòng biết ơn của dân chài đối với công đức Cá Ông và cầu mong mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè đi khơi về lộng an toàn.
Bách linh thuỷ tộc cũng được đưa vào lễ tế một cách đầy trân trọng.
Bài tế trong lễ tế Ông mang đầy ý nghĩa nhân văn ở chỗ không chỉ tế riêng linh cá ông, mà còn cầu siêu cho cả bách linh của con người và các loài thủy tộc tử nạn ngoài biển. Nhà nghiên cứu văn hóa Phùng Tấn Đông cho hay, những nghi thức và bài văn tế trong lễ cúng cá Ông mang ý nghĩa như một đàn tràng của Nhà Phật, cầu cho chúng sinh an lành, đưa con thuyền bát nhã qua miền cực lạc. Các bài tế dân gian được viết theo phong cách mộc mạc mà súc tích, thể hiện khát khao những mùa cá bội thu và không quên những người bỏ mạng ngoài biển.
Sau phần lễ tế là phần “hội”. Có rất nhiều trò chơi dân gian gắn với nghề biển diễn ra trong phần hội như đua thuyền, đua thúng, đấu vật, kéo co ... Ngoài ra còn có phần diễn xướng, với các màn hát bội, hò đưa linh và hò nẹm, trong đó đáng chú ý nhất là hát bả trạo, một hình thức múa hát đặc trưng lễ cầu ngư, mô phỏng các động tác của nghề đánh bắt cá, từ chèo thuyền, thả câu, thả lưới, kéo lưới cho đến chống bão…
Hát bả trạo gồm ba nhân vật cầm trịch, là ông tổng mũi (người dẫn đường), ông tổng khoan (người lo việc bếp núc trên tàu, dò luồng cá) và ông tổng lái (người cầm lái) cùng các chạo tử (người chèo thuyền). Các chạo tử được lựa chọn phải là nam nữ thanh niên chưa lập gia đình.
Các chạo tử theo nhịp của các ông tổng này cùng ca lên những bài hò bả trạo rước linh Ông vào lăng, cầu siêu cho chúng sinh bỏ mạng ngoài biển, đưa con thuyền vượt qua giông bão... kết hợp với các động tác múa gắn với nghề chài lưới như chèo thuyền, kéo lưới…
Màn trình diễn độc đáo và đậm chất nhân văn nhất trong buổi diễn xướng là của nhân vật tổng khoan. Khi các chạo tử và bạn chài nghỉ ngơi sau một ngày lao động nặng trên biển, ông tổng khoan chậm rãi thả câu bên mạn thuyền. Mỗi khi cá cắn câu, bao giờ tổng khoan cũng nhấc lên xem, nếu là cá cái bụng đầy trứng, ông sẽ thả cá về với biển.
Đây là một tục lệ văn minh trong nghề biển, vừa mang ý nghĩa tâm linh là không sát sinh cá trứng, vừa mang ý nghĩa nhân văn tôn trọng tự nhiên và bảo tồn nguồn lợi thuỷ sản, tránh đánh bắt theo kiểu tận diệt. Một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Cam-pu-chia hay Indonesia cũng có tục cấm đánh bắt trong mùa cá có trứng.
Bảo tồn, lưu truyền và gìn giữ
Là người đã có nhiều năm gắn bó với những nghiên cứu về văn hóa vùng duyên hải Trung Bộ, ông Phùng Tấn Đông tỏ ra băn khoăn khi nói về việc lễ cúng Ông ở một số nơi đã bị biến tướng. Từ những thay đổi nhỏ như trang phục, văn tế, cho đến việc đưa thêm những nội dung không phù hợp vào đã khiến cho lễ cúng cá Ông mất đi phần nào ý nghĩa.
Hiện nay, nhiều nơi ở Quảng Nam, khi ngư dân nhường đất cho các dự án du lịch hay không còn làm nghề biển, họ vẫn tổ chức lễ tế hằng năm tại nơi ở cũ, bởi nghi thức văn hóa này đã ăn sâu vào máu thịt và trở thành một phần trong cuộc sống của họ. Một số nơi khác, do những biến động trong cuộc sống, không còn giữ được lễ cúng, nhưng đã theo hướng dẫn của các nhà nghiên cứu văn hóa để phục dựng lễ hội sao cho đúng nghi thức và sát với “bản gốc” nhất.
Lễ hội luôn thu hút đông đảo du khách.
Ở Hội An, do những ảnh hưởng tốt của phát triển du lịch, cùng với sự quan tâm của ngành văn hóa, đồng thời bản thân người dân cũng có ý thức gìn giữ, lưu truyền những nghi thức văn hóa cổ, nên lễ cầu ngư - cúng cá Ông được tổ chức đều đặn hằng năm với quy mô lớn. Ở nhiều vạn chài, các vai chạo tử giờ đây thu hút nhiều thanh niên nam nữ, do chính các em cũng cảm thấy tự hào khi được tham gia một nghi lễ lớn của quê hương mình. Đây cũng là niềm tự hào chung của người dân Hội An và ngư dân vùng duyên hải miền trung trong tình trạng nhiều lễ hội đang bị mai một hiện nay.
Ngoài những ý nghĩa tốt đẹp về mặt nhân văn cũng như vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và tâm linh của ngư dân, lễ cầu cư - cúng cá Ông trong thời đại ngày nay cũng cho thấy ý nghĩa lớn về mặt bảo vệ hệ sinh thái, bảo vệ cá voi, loài động vật đang đứng trước nạn tuyệt chủng do bị khai thác, đánh bắt quá mức. Ngày nay, khi các quốc gia trên thế giới kêu gọi tham gia công ước bảo vệ cá voi, thì từ hàng thế kỷ trước, những người dân chài Việt Nam đã tham gia bảo vệ loài vật này theo cách làm riêng của mình.
TUYẾT LOAN