Ðến gia đình anh Nguyễn Văn Tám (ấp Trà Cổ) được tận mắt thấy những người thợ, tám thành viên trong gia đình gồm hai vợ chồng và sáu cháu đang miệt mài làm việc. Người có sức khỏe lo khâu khoan, bào, đục; người yếu hơn chịu khâu dán ghép thành phẩm, trẻ nhỏ phun sơn. "Dây chuyền" sản xuất thủ công vận hành nhịp nhàng và cuối cùng hoàn thành chiếc xích lô đạp xinh xắn, kích thước chỉ 30 cm nhưng đầy đủ những chi tiết như một chiếc xích lô thật.
Khi được hỏi nghệ nhân hoặc trường lớp đào tạo, anh Tám cho biết, chẳng có thầy mà cũng không có trò, mà người thợ phải tự mày mò sau khi quan sát thực tế qua mẫu hoặc hình chụp trên sách báo. Những năm mới vào nghề, công việc vô cùng khó khăn bởi không có sự trợ giúp của máy móc, người lao động phải làm việc hoàn toàn thủ công, từ khâu chế tạo phôi làm nguyên liệu đến chế tác toàn bộ chi tiết trước khi ráp dán thành phẩm. Lúc ấy, mỗi tháng sản xuất được một trăm sản phẩm cũng khó. Ngày nay công việc nhẹ nhàng hơn, do chế tạo phôi đã có cơ sở chuyên làm. Các gia đình cũng đã tự trang bị một số máy cơ khí nhỏ để khoan lỗ, mài... do đó, năng suất tăng lên nhiều lần. Riêng gia đình anh Tám mỗi tháng có thể giao "mối" tới 400 sản phẩm, thu nhập hơn hai triệu đồng, để trang trải trong gia đình, lo cho các con đến trường, đồng thời tiết kiệm nuôi được bốn con lợn nái. Lấy ngắn nuôi dài, sau vài năm tích góp, vừa rồi anh xây lại nhà tường kiên cố, sắm nhiều phương tiện sinh hoạt đắt tiền.
Rời nhà anh Nguyễn Văn Tám, chúng tôi đến nhà chị Phạm Thị Minh làm thuyền buồm. Chị nói cuộc sống ngày nay được cải thiện nhiều, trước hết do huyện mở ra mấy khu công nghiệp, hai đứa con lớn của chị được giới thiệu đi làm công nhân, mỗi tháng chúng mang về cho chị hơn triệu bạc. Nhưng quan trọng hơn, xã đã thành lập hợp tác xã lo "đầu ra" cho các loại sản phẩm gỗ mỹ nghệ, giao hàng được trả tiền ngay, xã viên không bị tình trạng đọng vốn gối đầu, cho nên có tiền mua nguyên liệu tiếp tục sản xuất. Như gia đình chị hiện nay, mỗi tháng làm được 100 chiếc thuyền buồm, lãi được vài triệu đồng. Không như trước kia, vừa sản xuất vừa lo bán hàng. Ðối tượng tiêu thụ là khách hàng nước ngoài, cho nên, vài ngày lại phải một lần đi TP Hồ Chí Minh, trên vai mang hai chiếc thuyền buồm, rảo bước trước Nhà hát thành phố, một số khách sạn lớn khu vực chợ Bến Thành... ngoại ngữ không biết, chỉ dùng tay giao dịch với người mua. Nay đã có hợp tác xã lo việc bán hàng.
Từ một số ít hộ ban đầu, đến nay, Bình Minh đã có hơn 100 hộ sống bằng nghề làm hàng gỗ mỹ nghệ xuất khẩu. Theo thời gian, chắc chắn con số này tiếp tục tăng lên. Trong khi đó, thị trường tiêu thụ chính vẫn chỉ mới dừng lại ở TP Hồ Chí Minh. Hơn nữa, yêu cầu của khách hàng về độ tinh xảo và chất lượng sản phẩm, mẫu mã bao bì sẽ ngày càng cao. Do đó, vấn đề mở thị trường, đầu tư thiết bị nâng chất lượng sản phẩm và nâng cao tay nghề cho người lao động, đang là những yếu tố sống còn của một làng nghề còn non trẻ. Ðó chính là trách nhiệm nặng nề mà hợp tác xã làng nghề phải đảm nhiệm. Rất mong được sự chia sẻ của các ngành liên quan.