Làng của điệu múa "Giáo cờ - Giáo quạt" độc đáo Làng tôi nằm bên bờ sông Diêm, con sông chảy trọn vẹn trong một tỉnh, đầu nguồn là Thái Bình mà cửa bể vẫn địa phận tỉnh Thái Bình. Như mọi làng quê Việt Nam xưa, làng tôi cũng có hai tên, tên Nôm là làng Giắng, tên chữ là Thượng Liệt (xã Đông Tân, Đông Hưng, Thái Bình).
Thành hoàng làng là bà Trần Thị Quý Minh, vị công chúa cả của Đức vua Trần Duệ Tông (1337 -1377). Hơn 600 năm trước, do trái lệnh vua cha, không chịu kết hôn với người trong dòng tộc nên Công chúa Trần Thị Quý Minh cùng với hai người em gái bị đày về rẻo đất cửa bể này lập nên ba làng: Thượng Liệt, Trung Liệt và Hạ Liệt.
Thuở ấy, làng tôi là bãi đất bồi, hoang vu và đầy năn lác, sú vẹt.
Vào những ngày đầu mở đất, để giúp người dân quên đi nỗi gian lao, cực nhọc và cũng để vơi đi nỗi nhớ kinh thành của mình, bà đã dày công soạn ra điệu múa "Giáo cờ -Giáo quạt" gồm 36 cấp với phần lời hát ẩn chứa niềm thương nhớ kinh kỳ và niềm tôn kính vua cha. Khi đánh giá về điệu múa này, nhiều nhà chuyên môn cho rằng, đây là điệu múa độc đáo vì đậm bản sắc, nó đòi hỏi rất cao ở tài năng bẩm sinh cũng như sự khổ luyện của người thể hiện. Đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ trước, nghệ sĩ Easola Thủy đã cùng với các vũ công làng tôi và làng An Khê (Quỳnh Phụ, Thái Bình) dựng vở vũ kịch nổi tiếng "Hạn hán và cơn mưa" đưa những vũ công làng tôi đi 15 quốc gia trên thế giới. Vũ hội xuân mới ở làng tôi được tổ chức từ ngày 10 đến hết 12 tháng Giêng hằng năm. Đến năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, lễ hội ngừng hoạt động và đến năm 1987 thì được phục hồi. Nhờ quần thể di tích Đình - Chùa - Lăng và đặc biệt là điệu múa Giáo cờ - Giáo quạt độc đáo mà đình làng tôi được cấp bằng công nhận Di tích Văn hóa ngay đợt đầu tiên.
Làng anh hùng của những người con anh hùng Làng tôi còn nổi tiếng cả vùng về tinh thần quả cảm trong các cuộc chiến tranh vệ quốc. Kháng chiến chín năm, làng lọt thỏm giữa bốn bề vùng tề ngụy và đồn bốt. Phía đông, Pháp đóng bốt Chùa Khô.
Phía bắc là bốt Phù Sa, phía tây là bốt Cầu Gọ và phía nam là bốt Cầu Sắt... Bất chấp sự bao vây của giặc, làng tôi vẫn kiên cường kháng chiến và là đầu mối của ba huyện (Đông Quan, Thụy Anh, Thái Ninh). Hằng đêm, đội du kích chia ra làm mấy ngả quấy rối khiến giặc trong đồn mất ăn, mất ngủ. Tinh thần bất khuất của dân làng khiến thực dân Pháp vô cùng tức giận.
Giữa năm 1951, chúng mở "Chiến dịch vết dầu loang" nhằm càn quét, tiến công khu kháng chiến của ta ở vùng này mà một trong những mục tiêu chính là tiêu diệt đội du kích kiên cường làng Giắng.
Rạng sáng 18-7-1951, khi dân làng còn chìm trong giấc ngủ, bọn địch ập đến, bắt hết mọi người ra đình. Trong số đó có rất nhiều cán bộ, đảng viên và du kích. Do bị chỉ điểm, bọn giặc bắt được anh Son, một chiến sĩ du kích trẻ tuổi, quẳng ra giữa sân đình. Tên chỉ huy đồn Cầu Sắt lệnh cho bọn lính dùng gậy tre tươi đực giáng xuống thân hình nhỏ bé, đã bị trói của anh Son.
Hai tay bị trói chặt nằm quằn quại đỡ đòn, nhưng anh không hề kêu rên. Mỗi khi anh ngất đi, chúng lại lấy nước xối vào người để anh tỉnh lại, đánh tiếp.
Sau mỗi lần tra tấn, chúng lôi anh đi đến từng người, lật mặt lên hỏi: "Thằng nào là du kích, nói ngay?". Thấy anh vẫn không khai, chúng buộc dây vào hai chân hai tay, kéo ngược anh lên xà đình rồi thả rơi tự do đập mặt xuống đất.
Mỗi lần như thế, máu mũi máu mồm anh lại ộc ra... Không khai thác được gì từ anh, dù đã dùng mọi cực hình tra tấn tàn độc, bọn giặc hèn hạ mang anh đi hành hình, đạp anh xuống bến đò Hồ rồi lia súng. Năm 2013, Liệt sĩ Nguyễn Quang Son được truy phong là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong các cuộc kháng chiến vệ quốc, xã Đông Tân đã hiến dâng cho Tổ quốc 236 liệt sĩ, 35 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 136 thương, bệnh binh và 22 năm liền dẫn đầu toàn huyện trong công tác tuyển quân, chi viện cho tiền tuyến. Hiện nay, xã có hai Anh hùng Lực lượng vũ trang là Liệt sĩ Nguyễn Quang Son và Thiếu tướng Vũ Hùng Vương (nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an).
Qua rồi thời "Bát cơm đã hẩm, quả cà còn thâm" Lịch sử văn hóa là độc đáo, lịch sử vệ quốc là oanh liệt, nhưng cái nghèo của làng thì vẫn đeo đẳng.
Chẳng biết từ bao giờ đã xuất hiện câu ca đắng lòng: "Lên Lan, xuống Giắng, về Hà/Bát cơm đã hẩm, quà cà còn thâm". Lan, Giắng, Hà là ba làng nghèo nhất phủ Đông Quan xưa. Làng tôi xưa, những mái nhà tranh lúp xúp như úp lấy phận người. Những con đường lầy lội như trì níu bước chân. Đất chật, người đông, dân làng tôi như con cò, con vạc lặn lội hết đồng cạn lại đồng sâu để kiếm sống. Và câu ca "khắp nơi tung hoành" trở thành muôn thuở mỗi dịp giáp hạt, tháng ba, ngày tám. Đói nghèo luôn đi kèm với dịch bệnh. "Toét mắt là tại hướng đình/Cả làng toét mắt có mình em đâu"... Biết bao thân phận gái làng tôi đã sống trong cô đơn bởi mang danh là "làng toét mắt".
Nhưng giờ đây, làng tôi đang thay đổi từng ngày. Như người con gái mới lớn, làng ửng hồng với san sát những mái ngói đỏ tươi, những công trình công cộng phục vụ cuộc sống cộng đồng như nhà văn hóa...
Nếu trong tất cả sự đổi mới ở nông thôn, có lẽ một thay đổi có tính cơ bản nhất là quan niệm của người dân về vệ sinh môi trường. Khi xã hội càng văn minh, con người ta càng chăm chút hơn đến các công trình phụ. Ở những thành phố lớn đã và đang xuất hiện tư tưởng "xây nhà chính là phụ" và "xây công trình phụ là chính". Làng tôi giờ đây cũng vậy. Cả làng không còn ai sử dụng nước ao tù cho sinh hoạt và nhà nào cũng sử dụng nước sạch, có công trình vệ sinh sạch sẽ. Làng tôi giờ tuyệt nhiên không còn một mái nhà tranh, nhà nào cũng có xe máy và cũng trừ trẻ em và các cụ quá già, không ai không có điện thoại di động. Hình ảnh các bà vợ nấu xong cơm, dùng điện thoại di động gọi cho các ông chồng làm đồng về ăn đã trở nên quá quen thuộc...
Bao giờ "khúc ca" "khắp nơi tung hoành" đi vào dĩ vãng?
Con đường cao tốc Pháp Vân -Liêm Tuyền và con đường nối TP Phủ Lý với Nam Định mới được khánh thành đưa chúng tôi vượt đoạn đường hơn 130 km chỉ mất khoảng hai giờ đã cắt ngang luồng suy nghĩ của tôi. Khi chúng tôi về đến đầu làng, không khí thật náo nhiệt. Hầu như tất cả những ai còn khỏe, có mặt ở làng đều đổ ra để cải tạo đường làng, ngõ xóm. Bà cô Bùi Thị Hương vừa thấy chúng tôi đã reo lên: "Chúng mình về làm đường đấy hả?". Trưởng thôn Lại Khắc An thì phấn khởi khoe: "Các tuyến đường liên thôn sẽ rộng 6 m, đường trong xóm rộng 3 m, tất cả đều đổ bê-tông dày 15 cm. Nhà nước cho xi-măng, các khoản khác do người dân đóng góp anh ạ".
Thím Nguyễn Thị Xuân thì bảo: Lần sau về chúng mày có thể lao xe đến tận sân nhà. Vâng. Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, con đường làng tôi sẽ hoàn thành. Nó là kết quả từ sự hỗ trợ trong Chương trình xây dựng nông thôn mới, là công sức của người dân làng tôi đã bỏ công, bỏ của, hiến đất... Nói chuyện với Bí thư Huyện ủy Vũ Đức Hằng, giọng anh không giấu nổi sự hồ hởi: "Vâng, tôi đang động viên các xã. Tiêu thụ xi-măng để làm đường là một trong những tiêu chuẩn thi đua của huyện đấy anh ạ". Từ thâm tâm, tôi hiểu Vũ Đức Hằng đang rất vui bởi từ khi được điều về làm Bí thư Huyện ủy, anh đã coi Đông Hưng là quê hương thứ hai của mình. Cũng không hiểu có "duyên nợ" gì mà ngay từ ngày đầu mới nhậm chức, Bí thư Hằng đã "vi hành" xuống tận bờ ruộng làng tôi để khi nói chuyện, anh "vanh vách" làm Chủ tịch xã Quách Tiến Quân "mắt tròn, mắt dẹt"...
Làng tôi đang thay đổi từng ngày. Song từ sâu thẳm trong tâm, vẫn còn một điều day dứt. Những gì làng tôi có hôm nay phần lớn là tài sản của người làng đi làm ăn xa mang lại. Họ có mặt ở mọi miền của đất nước để mưu sinh, từ Lạng Sơn, Móng Cái đến Cà Mau, Phú Quốc... Vì thế những ngày sau Tết, làng hầu như vắng bóng đàn ông.
Bao giờ người làng tôi được sống và làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình? Bao giờ "khúc ca" ai oán "Tay bị, tay gậy khắp nơi tung hoành" mãi mãi đi vào dĩ vãng!