Tóc mới hoa râm, răng chắc, mắt tinh, nét cười còn tươi còn hóm, nhất là chất giọng còn rền, lão nghệ nhân chèo làng Khuốc Hà Quang Ngạn, một thời người xem gọi kép Ngạn, chả có vẻ gì đã tuổi bát tuần. Xóm giềng khen cụ trẻ lâu, cụ cười : "Thì riêng gì tôi đâu chứ! Ấy là do hát chèo từ bé nên mới thế!".
Cụ Ngạn kể rằng từ lâu rồi kia, cả làng Khuốc hát chèo. Ngày đi làm đồng cũng hát, cũng luyện cho nhau hát. Tối tối, làng mới thật là sống. Tiếng trống phách, nhị hồ, đàn tam đàn tứ, tiếng ngân chèo í a râm ran đầu làng cuối xóm, làng cứ như nhạc viện. Lắm gia đình cả nhà thạo hát chèo. Các gánh hát dồi dào đào kép, có gánh cả cha con, vợ chồng, anh em cùng diễn, dựng đến là nhiều vở, đi hát xa không mang theo được hết diễn viên. Các bà mẹ mang thai gần tháng sinh không thể vừa múa may phấp phới vừa ra làn điệu, mới chịu hát ngồi. Các bé con được nuôi dưỡng bởi "men" chèo từ trong bụng mẹ. Các thế hệ nghệ nhân chèo Khuốc từ xưa, cách thế hệ cụ Ngạn bảy, tám đời, cho đến trẻ con bây giờ được sinh ra theo lối "chèo Khuốc" thế ấy. Nên ham chèo từ bé tí mà chưa cần ai dạy cho ý thức giữ gìn vốn cổ.
Cụ Ngạn chưa đến mười tuổi đã say mê lối hát, lối diễn của các bậc thầy như các cụ Ba Ðối, Xã Lục..., rồi đến thế hệ đàn anh như cụ Ðiền, cụ Trạch, cụ Na, cụ Bổng, cụ Phụ... Chả hiểu sao cụ Ngạn lúc ấy lại mê các vai hề đến vậy. Mấy năm sau thì xin theo điếu đóm cho các gánh chèo, chỉ để khi thì gõ trống nhịp, khi thì đứng sau cánh gà lắc lư xiêu vẹo nhướn mắt nhệch môi học lỏm lối hề kép Trạch.
Giờ là nghệ nhân vào hàng cao tuổi nhất còn ở làng, cụ Ngạn được dân làng vị nể. Khách đến chơi làng, từ nhà nghiên cứu sân khấu như Trần Bảng, Hoàng Kiều, đến các Nghệ sĩ Ưu tú chèo trung ương như danh hài Xuân Hinh muốn học đôi ba làn điệu lạ, cùng khách ham chèo tứ xứ, đều đến thăm, xin cụ hát cho nghe vài điệu chèo chỉ Khuốc mới có mà thôi.
Nể lời mấy anh em chúng tôi, cụ Ngạn chiêu hớp nước, nói: "Mấy vị nghe thử điệu "Tuyết dạt sông Thương nhá!", cả làn điệu lẫn lời đều cổ, các cụ trước dạy sao tôi hát thế!". Cụ gõ nhẹ xe điếu lên bàn giữ nhịp, cất giọng còn ấm nhưng không được mượt vì có tuổi. Nhưng thế cũng đủ làm cụ đắm mình vào khúc hát.
Theo các nhà nghiên cứu thì Khuốc còn giữ được ít ra là 12 làn điệu cổ cả nhạc lẫn lời, những "Vẫn non mai", "Tuyết dạt sông Thương", "Hề đơm đó",v.v... Các thế hệ nghệ nhân làng Khuốc những thế kỷ trước dựng vở đem đi diễn các nơi làm kế sinh nhai, phải mượn nhiều làn điệu chèo phổ biến, nhưng "hòa nhập chẳng hòa tan", khiến chèo Khuốc nay mới được coi là di sản văn hóa phi vật thể.
Còn như nói đến lớp nghệ nhân Khuốc đầu tiên đưa lối hát chèo riêng của Khuốc vào vở diễn, thì dân làng kể đến phường chèo của cụ Trùm Ðiều giữa thế kỷ 19. Chưa đông đào kép và nhạc công, mà phường hát được các vở Trương Viên, Lưu Bình - Dương Lễ, bà con xem khen lắm. Tiếp sau, phường hát của cụ Thương biện Cao Kim Trác (từng đậu nhị trường, vừa dạy chữ Hán vừa bốc thuốc, từng làm kép ở phường cụ Trùm Ðiều, hưu chức Thương biện thì về làng lập gánh hát), mở ra xu hướng nở rộ các gánh chèo Khuốc dàn dựng và đem nhiều vở diễn đi khắp nơi chinh phục người xem. Cụ Trác mời được thầy giỏi là kép Ngạn bên huyện Hưng Hà, từng đỗ nhất trường, nổi tiếng giỏi đàn cho hát ả đào (ca trù) và thuộc lắm tích trò. Cụ Trác làm nhà, mở lớp, lập phường hát ở làng và sang hát ở các làng bên. Kép Ngạn dàn dựng vở dài Từ Thức nhập thiên thai cho phường Khuốc, nên lối hát đậm chất ả đào, và đưa lối múa "chạy chái" vào vở nên đến nay lối múa này coi là "kinh điển" của chèo Khuốc.
Sau thì đến cụ Tổng Bá (Cao Kim Thiên) nối nghiệp cha, dựng thêm vở Tống Trân - Cúc Hoa do học ở Hưng Yên về. Cụ Thiên có óc cởi mở, vả cũng muốn gánh hát ăn nên làm ra, nên tìm thầy tuồng Huế về dạy và dựng cả vở tuồng ba hồi Sơn Hậu.
Sang thế kỷ 20 thì chèo Khuốc bước vào thời thịnh. Các gánh chèo đua nhau ra đời, người ta gọi tên người sáng lập làm tên gánh, nổi hơn cả các gánh Huyện Ðoàn, Cửu Cả, sáu anh em họ Cao (cháu cụ Thương Trác), Kép Mục, Khóa Thi, Xã Lục, Chánh Ân... Vở diễn thì la liệt, có cả tuồng, thêm những Phan Trần, Quan Âm Thị Kính, Mẫu Thoải, Hán Sở, Nhị độ mai, Một trận cười, Võ Tòng đả Hổ, Võ Tòng sát tẩu, Chinh đông chinh tây, Ðào Phi Phụng, v.v. Các gánh ngang dọc tứ xứ có khi đi lưu diễn cả tháng trời, từ Hải Dương, Kiến An tới cả Hà Nội, ngược lên Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, sang cả Cao Bằng, Hòa Bình, có người nói còn vô cả Huế diễn. Lực lượng đào kép hùng hậu, diễn tài dân nhớ nhất là những kép Ðối (Vũ Ðình Ðối), kép Ðiền (Phạm Văn Ðiền), kép Trạch (Cao Kim Trạch), kép phụ (Vũ Văn Phụ), đào Na ( Ðào Thị Na), các kép đàn Hà Quang Bổng, Cao Kỳ Dương...
Bẵng đi một hồi do bận kháng chiến, tới năm 1958 thì làng Khuốc lại hát và diễn chèo. Các kép Trạch, kép Ðiền, đào Na... được mời lên Hà Nội dạy chèo ở Trường ca kịch Việt Nam thời ấy. Ðội văn nghệ xã Phong Châu số đông diễn viên, nhạc công người làng Khuốc lại diễn cho dân làng xem, lại đi diễn các nơi, lên cả Ðiện Biên, Lai Châu, Yên Bái, rồi đi hội diễn tỉnh, toàn quốc. Diễn nhiều nhất là các vở đương đại do các tác giả người làng (xuất sắc là Bùi Quang Tiết) sáng tác - những Vườn cam, Con trâu mộng, Ðất thắm tình người, Suối tiên... Giành cũng lắm huy chương, giải thưởng. Các trường nghệ thuật, các đoàn chèo trung ương, ngành và các tỉnh đổ về Khuốc săn năng khiếu và các tài năng trẻ...
Rồi lại bẵng đi gần 20 năm, làng Khuốc thưa vắng hát chèo. Vì bận làm ăn để có nhiều tiền, vì trai tráng túa đi tứ xứ kiếm tiền, vì ngay như đoàn chèo tỉnh cũng ngắc ngoải vì diễn đâu cũng vắng người xem. Lớp trẻ lại có ti-vi xem lắm phim ngoại, phim nội, nghe lắm pốp, rốc, híp hóp, nên sao nhãng chèo "đồ cổ".
Nhưng mà lạ, cứ như từ trong dòng máu, mỗi dân Khuốc tiềm ẩn một nghệ nhân chèo Khuốc. Nên từ năm 2000 trở đi, chèo Khuốc hồi sinh đến là nhanh. Nhờ "trên lay nên dưới động", nhiều dự án quốc gia, tỉnh, hợp tác quốc tế đổ tới chiếu chèo, dân Khuốc mừng rỡ hãnh diện lắm, nên "máu chèo" lại nổi. Những tài trợ từ "Sân khấu học đường" của ngành giáo dục - đào tạo, "Hỗ trợ xây dựng điểm du lịch chiếu chèo làng Khuốc" rồi thì "Khôi phục và bảo tồn nghệ thuật chèo cổ làng Khuốc" của tỉnh, "Xây dựng nhà thờ Tổ chèo làng Khuốc" của Quỹ Việt Nam - Ðan Mạch phát triển văn hóa, khiến di sản này lại thức dậy.
- Dân làng Khuốc mấy năm nay lại hát chèo - Chủ tịch UBND xã Phong Châu Bùi Thanh Vân hào hứng nói thế với khách gần xa. Có nghệ nhân đã buồn bã bảo rằng có dễ tên tuổi, tài nghệ các bậc làm nên tiếng thơm cho Khuốc chỉ còn là cổ tích. Mà bộ huy chương vàng bạc mấy chục tấm thì chỉ để mà ngắm rồi tiếc mà thôi. Bây giờ thì các cụ hả hê, bảo may quá vẫn còn sống để truyền nghề cho lũ trẻ. Xã mở liên tiếp các lớp luyện chèo, hát cho đủ 12 điệu chèo Khuốc, múa cho được màn "múa chái" trong vở Từ Thức. Rồi thì mở các CLB chèo ở cả bốn thôn, có nhà ba thế hệ cùng một CLB. Làng Khuốc lại cảm thấy sống không thể thiếu hát chèo! Các trường học bây giờ cũng được tập hát chèo Khuốc, đội chèo xã lấy diễn viên đóng vai đứa trẻ hóa ra lại sẵn. Mà đúng là phải tập cho con trẻ lớp lớp biết hát chèo Khuốc thì thứ "gia bảo" này mới giữ được lâu bền.
Hỏi dân Khuốc, dân nói chả tin ông ở chơi đến dịp sinh hoạt CLB là biết. Dân làng cũng gọi nhau đến nghe hát chèo đông lắm. Người biết hát trong làng cũng đông, nếu ai muốn hát được hát thì đêm ngắn quá. Gớm, trẻ mỏ có đứa tối ngủ mơ cũng ú ớ hát chèo. Ông Trưởng ban văn hóa xã Quách Xuân Sáu có vẻ bận rộn hơn, nhưng mà vui. Ông nói:
- Giá mà dịp Tết anh về chơi, thì sẽ thấy dân Khuốc ăn Tết "bằng chèo". Sân Trung tâm văn hóa xã ấy à, cứ gọi là người đổ tới xem diễn chèo nườm nượp. Ðội chèo xã đủ cả ba thế hệ, tuổi ngoài năm mươi xuống dưới mười lăm. Dàn nhạc đủ cả nhị hồ, đàn sáo, trống phách. Hơn 20 diễn viên nam nữ, cứ gọi là diễn liền mấy đêm chưa hết vở, những Tấm Cám, Suối tiên, trích đoạn Từ Thức, Quan Âm Thị Kính..., chả thua mấy chèo chuyên nghiệp. Hội diễn huyện, tỉnh, khu vực, toàn quốc thì chả kỳ nào không đến tranh tài, không lĩnh huy chương.
Ông ngập ngừng giây lát, tiếp:
- Nói thì e người ta nghĩ mình khoe, nhưng có lẽ chả làng nào khắp nước sẵn huy chương sân khấu như Khuốc. Từ thuở ta có hội diễn, tới nay là 49 huy chương vàng, bạc cho cả đoàn và nam nữ diễn viên. Từ chiếng chèo, dân Khuốc đi làm thầy dạy chèo cũng có, làm nghiên cứu chèo chuyên nghiệp cũng có, được Nhà nước phong Nghệ nhân cũng có (như đợt đầu là các cụ Phạm Văn Ðiền, Cao Kim Trạch), rồi thì làm đại biểu Quốc hội cũng có cả. Chưa kể còn "xuất" cho hơn mười đoàn chèo chuyên nghiệp tới 50 diễn viên ấy chứ. "Nuôi" chèo mà được thế kể cũng bõ công chứ ạ?
Bây giờ làng Khuốc-chiếng chèo đã là Làng văn hóa cấp tỉnh rồi. Làng đã được công nhận "xanh, sạch, đẹp". Làng lại đủ "bốn không": Không khê đọng thuế, phí; không tệ nạn (cả đến mấy trăm trai tráng đi làm ăn tứ xứ cũng chẳng ai dính vào "chích choác"); không nhà ai "cố thêm út ít thứ ba; không con em bỏ học. Hương ước mới nghiêm hơn trước, do dân bàn soạn, nhất trí mà nên. Cả làng có tới 93% số gia đình văn hóa. Chèo Khuốc hồi sinh trong một không gian văn hóa làng quê nhịp sống công nghiệp bắt đầu khởi động.