Không chỉ sông Thị Vải
Vào thời điểm 24-8-2008, các kết quả đo nồng độ ô-xy hòa tan (DO) có chỉ số 2mg/l ở sông Thị Vải cho thấy, vùng ô nhiễm nặng kéo dài từ xã Long Thọ (Nhơn Trạch, Ðồng Nai) tới khu vực cảng Phú Mỹ (Bà Rịa - Vũng Tàu). Ðặc biệt, ở đoạn sông từ sau khu vực hợp lưu Suối Cả - sông Thị Vải khoảng 2km đến khu công nghiệp Mỹ Xuân, giá trị DO thường xuyên dưới 0,5 mg/l, có nơi chỉ 0,04 mg/l. Với giá trị DO gần như bằng 0 như vậy, không một loài sinh vật nào còn khả năng sinh sống.
So sánh kết quả quan trắc ngày 8-5-2006 và kết quả ngày 24- 8-2008, cho thấy vùng ô nhiễm trên sông Thị Vải ngày càng lan ra xa. Tại thời điểm quan trắc năm 2006, độ dài của vùng ô nhiễm nặng (lượng ô-xy hòa tan dưới mức 0,1 mg/l) kéo dài khoảng 10km. Tuy nhiên đến tháng 8 - 2008, vùng ô nhiễm nặng đã kéo dài đến hơn 15km. Ðiều này cho thấy tốc độ ô nhiễm của nguồn nước sông Thị Vải đang tăng rất nhanh. Theo tính toán, nếu tình trạng ô nhiễm không được can thiệp, đến năm 2010 mức độ ô nhiễm sẽ kéo dài hết sông Thị Vải.
Cũng theo kết quả quan trắc, không chỉ tầng nước mặt của sông Thị Vải bị chết mà ngay cả nền đáy của nhiều đoạn sông này cũng không còn sự sống vì thường xuyên bị tích tụ bùn và kim loại nặng. Mức độ ô nhiễm của nguồn nước thải còn đáng sợ hơn nữa khi có chất amiăng - một loại hóa chất rất nguy hại cho môi trường, có thể gây ung thư cho con người, đặc biệt là ung thư phổi và ung thư trung biểu mô.
Sông Thị Vải có chiều dài 76km, bắt nguồn từ xã Nhơn Thọ, Long Thành, Ðồng Nai chảy qua huyện Tân Thành (Bà Rịa - Vũng Tàu) và huyện Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh). Ðây là dòng sông mang nguồn nước mặn, lợ với chế độ bán nhật triều và hệ động thực vật từ thượng đến hạ nguồn rất phong phú, đa dạng. Tuy không có ý nghĩa về mặt cung cấp nước, nhưng sông này rất quan trọng về mặt sinh thái và môi trường.
Theo quy hoạch ban đầu, chất lượng nước mặt sông Thị Vải được cho phép là tiêu chuẩn B (nước dùng để tưới tiêu và nuôi trồng thủy sản). Với những kết quả quan trắc mới nhất, nhiều nhà khoa học đã khẳng định đây là một dòng sông đang chết.
Tuy nhiên, không chỉ sông Thị Vải mà toàn tuyến lưu vực sông Ðồng Nai từ lâu đã được báo động là ô nhiễm do nước thải các nhà máy sản xuất của 56 khu công nghiệp (KCN) và khu chế xuất (KCX) đang hoạt động ít, nhiều đổ chất thải chưa xử lý hoặc xử lý chưa đạt chuẩn ra các con sông, kênh gần nhất. Sông Thị Vải, sông Dinh, vịnh Gành Rái... thì hứng chất thải của các KCN ở các tỉnh Ðồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, sông Sài Gòn gần như hứng gần hết chất thải các KCN của tỉnh Bình Dương.
Nước sông Ðồng Nai, đoạn từ nhà máy nước Thiện Tân đến Long Ðại, đã bắt đầu ô nhiễm chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng, đáng chú ý đã phát hiện hàm lượng chì vượt tiêu chuẩn. Tại đây, chất rắn lơ lửng thường vượt tiêu chuẩn 3 - 9 lần, giá trị COD vượt 1,8 - 2,8 lần, giá trị DO thấp dưới giới hạn cho phép. Trong khi đó, chất lượng nước sông của khu vực hạ lưu, giá trị DO xuống rất thấp.
Các sông khác trong toàn lưu vực, chất lượng nước cũng đang bị suy giảm trầm trọng. Thí dụ, chất lượng nước ở một số sông nhánh như sông Bé, Ða Nhim - Ða Dung phần hạ lưu cũng đang diễn tiến theo chiều hướng xấu. Sông Vàm Cỏ đã bị ô nhiễm hữu cơ. Nhiều đoạn sông đã bị ô nhiễm đến mức báo động và nhiễm mặn nghiêm trọng, không thể sử dụng cho sinh hoạt và tưới tiêu. Tốc độ ô nhiễm trong toàn lưu vực lại tăng mạnh trong 5 năm gần đây.
Hiện nay, bình quân hệ thống sông Ðồng Nai tiếp nhận khoảng 111.600m3 nước thải công nghiệp/ngày, trong đó chứa hàng chục tấn hóa chất vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Dự báo trong những năm tới, nếu tốc độ tăng trưởng công nghiệp trong khu vực khoảng 15%/năm mà ngành chức năng không có ngay các giải pháp bảo vệ môi trường thì vô cùng nguy hiểm. Bởi đến năm 2010, hệ thống sông Ðồng Nai sẽ tiếp nhận thêm khoảng 1,73 triệu m3 nước thải sinh hoạt (trong đó có khoảng 702 tấn cặn lơ lửng, 59 tấn ni-tơ tổng, nhiều vi trùng gây bệnh...), khoảng 1,54 triệu m3 nước thải công nghiệp (trong đó có khoảng 278 tấn cặn lơ lửng, 89 tấn ni-tơ tổng và nhiều kim loại nặng) rất có hại cho môi trường. Ngoài ô nhiễm nguồn nước, nhiều diện tích đất màu mỡ cũng đang dần biến mất.
Một nguy cơ khác đáng lưu ý, hiện nay đã có khoảng 15% đất trong lưu vực này đang bị xói mòn nguy hiểm. Nhiều khu vực như huyện Ðạ Tẻh, Ðức Trọng, Ðơn Dương (tỉnh Lâm Ðồng), huyện Tân Phú, Ðịnh Quán (tỉnh Ðồng Nai)... đã bị xói lở với tốc độ "mất" từ 100-230 tấn đất/ha/năm. Ðất bị xói mòn đồng nghĩa với việc nhiều thành phần dinh dưỡng liên quan đến độ phì nhiêu của đất cũng bị trôi rửa như ni-tơ, P205... Thảm thực vật vì thế cũng bị ảnh hưởng. Sống trong môi trường bị suy thoái, ô nhiễm, tất nhiên chất lượng sống của con người cũng bị giảm đáng kể.
Bảo vệ sông bằng quan trắc và chế tài
Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam Nguyễn Tôn cho biết, việc tính toán chi phí xử lý nguồn nước thải từ sản xuất công nghiệp được căn cứ vào chất lượng nước thải, nồng độ ô nhiễm và công nghệ xử lý. Với mức độ ô nhiễm trung bình, giá thành xử lý 1m3 nước thải sau khi làm sạch sẽ gần gấp đôi giá nước sạch đầu vào. Nếu giá nước sạch hiện nay từ 4.000 - 5.000 đồng/m3 thì giá 1m3 nước sau khi xử lý sẽ ít nhất là 8.000 - 10.000 đồng/m3. Chỉ tính riêng chi phí để làm sạch hàng triệu m3 nước ô nhiễm do Vedan thải ra sông Thị Vải cũng đã cần tới hàng trăm tỷ đồng.
Theo tiến sĩ Hoàng Dương Tùng, Giám đốc Trung tâm quan trắc và thông tin môi trường, để cứu sông Thị Vải, cần phải "kích" nhiều giải pháp để ngăn chặn và đi tới chấm dứt xả nước thải chưa qua xử lý ra con sông này. Các giải pháp đưa ra là thường xuyên kiểm tra, thanh tra môi trường, áp dụng các công cụ kinh tế, khoa học công nghệ trong việc xử lý ô nhiễm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay từ Quỹ bảo vệ môi trường... Cần tăng cường công tác quan trắc, giám sát chất lượng nước sông Thị Vải và nước thải từ các cơ sở sản xuất, KCN... để có giải pháp "phản ứng" nhanh từ cơ quan quản lý Nhà nước.
Hiện nay hệ thống quan trắc (dùng để đo đạc, phân tích các thông số đánh giá chất lượng nước thông qua chỉ số DO, BOD,COD, kim loại nặng...) được lắp đặt tại các cơ sở sản xuất, KCN, vị trí là đầu nguồn nước do họ thải ra; trong số 54/77 cơ sở thực hiện chương trình giám sát môi trường, chỉ có 39 cơ sở (chiếm 50,6% thực hiện báo cáo đúng tần suất 2 lần/năm. Tuy nhiên, số liệu báo cáo sơ sài, chất lượng thấp...
Hướng sắp tới, Bộ Tài nguyên - Môi trường sẽ tăng tần suất quan trắc nguồn nước sông Thị Vải từ 2-6 lần/năm lên thành 12 lần/năm (đối với cơ quan quản lý Nhà nước) và từ 2-4 lần/ năm (đối với doanh nghiệp). Về lắp đặt hệ thống quan trắc, đại diện Công ty phát triển KCN Biên Hòa cho rằng: ngoài việc quan trắc, giám sát ngay tại khu vực xử lý nước thải của doanh nghiệp, rất cần lắp đặt các trạm quan trắc tự động tại một số điểm xả được coi là "điểm nóng" trên sông Thị Vải.
Về kỹ thuật, nhiều chuyên gia cho rằng cần cung cấp nguồn nước cho sông Thị Vải để pha loãng ô nhiễm và nâng cao khả năng tự làm sạch của dòng sông. Giải pháp này rất quan trọng, vì nếu chỉ chặn các nguồn chất thải thì sông Thị Vải vẫn ô nhiễm. Bởi lượng chất thải dưới lòng sông đã được tích tụ từ những năm 1990, khi địa phương trải thảm đỏ mời gọi nhà đầu tư mà chưa quan tâm đúng mức tới môi trường. Nói tóm lại, để làm sạch sông Thị Vải phải mất 10-15 năm và phải tốn hàng trăm tỷ đồng.
Theo giáo sư Ðặng Ðức Phú, Viện vệ sinh dịch tễ trung ương, hàm lượng chất hữu cơ trong chất thải từ nhà máy sản xuất bột ngọt, lysin, PGA là rất cao. Vedan phải chi rất nhiều tiền nếu muốn xử lý triệt để các chất hữu cơ trong dịch thải. Tuy nhiên, những loại chất hữu cơ này dễ bị phân hủy hơn nhiều so với những hóa chất trong nước thải của ngành dệt, giấy, phân bón bởi chúng chứa một số loại hóa chất có tính bền vững cực cao. Chính vì thế các cơ quan chức năng cũng phải kiểm tra hệ thống xử lý chất thải của các nhà máy giấy, phân bón, dệt... ở lưu vực sông Thị Vải.
Cùng quan điểm này, ông Lê Văn Phước (Viện Môi trường - Tài nguyên) cũng cho rằng, quan trắc chỉ là một trong nhóm giải pháp tổng thể để ngăn chặn sông Thị Vải biến thành dòng sông chết, bởi theo ông: "Lắp đặt hệ thống quan trắc trong lúc dòng chảy (từ các họng nước thải của DN) vẫn ô nhiễm thì cũng chẳng giải quyết được gì. Cần phải áp dụng ngay các giải pháp tổng thể để ngăn chặn ô nhiễm...".
Rất nhiều nhà khoa học cho rằng, giải pháp chỉ mang lại hiệu quả khi xác định đúng nguyên nhân. Nguyên nhân gây ô nhiễm là các cơ sở công nghiệp xả nước thải ra, thậm chí xả cả rác, chất thải rắn. Giải pháp vì thế chỉ có thể là ngăn chặn các nguồn thải này, bắt buộc các cơ sở phải quản lý nước thải, bảo đảm đạt tiêu chuẩn cho phép. Ðấy là cách tốt nhất, nhưng không dễ thực hiện. Bởi để xử lý nước ô nhiễm cần đầu tư lớn và phải có công nghệ phù hợp. Ngay cả có hai cái đó rồi thì việc xây dựng công trình xử lý nước thải cũng cần thời gian, ít nhất cũng mất vài ba năm.
Với những cơ sở cố tình xả chất thải độc hại, nguy hiểm ra môi trường thì phải xử lý, thậm chí tạm đình chỉ hoạt động một thời gian để họ có biện pháp đầu tư xử lý nước thải. Ở những vùng công nghiệp phát triển như Ðồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương vẫn còn suy nghĩ cố gắng kêu gọi đầu tư, châm trước về mặt môi trường. Thậm chí, có ý kiến đề nghị hạ thấp tiêu chuẩn môi trường xuống để dễ dàng kêu gọi đầu tư.
Chúng ta cần siết chặt kỹ hơn tất cả từ xây dựng, thẩm định, cấp phép, triển khai và giám sát dự án đầu tư, trong đó ưu tiên môi trường. Ở lưu vực sông, chính quyền không thể cấp phép đầu tư cho một số lĩnh vực có nguy cơ gây ô nhiễm nghiêm trọng, chỉ cấp phép cho dự án thân thiện với môi trường. Còn những cơ sở công nghiệp đang tồn tại gây ô nhiễm nghiêm trọng, khó xử lý thì phải di dời.