Kỷ niệm về bài thơ “Nấm mộ và cây trầm”


Tôi viết bài thơ Nấm mộ và cây trầm năm 22 tuổi, lúc còn là chiến sĩ ở Trung đoàn 165, thuộc Sư đoàn 312. Trung đoàn tôi nhận nhiệm vụ chiến đấu ở khu vực cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng. Mới vào thử lửa được mấy tháng, quân số trung đoàn đã bị thương vong khá nhiều. Người chết vì sốt rét, chết vì bom mìn, người chết vì quần nhau với giặc. Tôi có người bạn thân, hy sinh trong trận đánh ở đồi Mâm Xôi ( tên đồi do lính trung đoàn tự đặt), nằm cạnh thị xã Xiêng Khoảng.

Tôi còn nhớ vào một đêm mùa đông năm 1969, ở nghĩa trang biên giới, bọn "giặc trời" thả đèn dù, ném bom, ánh sáng đèn dù treo lơ lửng, lúc nhập nhoạng lúc bùng lên trên các lùm cây, ngọn đồi. Những cây thông bị cháy chĩa thẳng lên trời như những nén nhang lớn. Dưới ánh sáng đèn dù, dưới tàn lửa của những cây thông, tôi cùng một số người trong tổ vận tải tranh thủ đào huyệt, khâm liệm và chôn xác đồng đội. Từ khung cảnh đầy chất bi tráng đó, tôi có được cái tứ để viết bài thơ "Nấm mộ và cây trầm":

Ðất đắp mộ Hùng bom trộn lẫn
Cây trầm cháy đỏ thay nén nhang
Cây trầm cháy rồi hương vẫn thơm...

Hùng ơi, mai gió mùa đông-bắc
Võng bạt, canh khuya lại nhớ Hùng
Những đêm hai đứa xong phiên gác
Bao gạo gối đầu, chăn đắp chung.

Nhớ khi mình ốm giữa rừng
Vị thuốc Hùng tìm qua ba trái núi
Quả khế rừng nấu con cá suối
Thương mình Hùng hóa trẻ đi câu...

Trong bài thơ, cây thông ở nghĩa trang biên giới được thay thế bằng hình tượng cây trầm (một loài cây quý) thay nén nhang thắp lên mộ bạn mình. Từ cuộc đời của cây, tôi nghĩ đến cuộc đời bình dị của người chiến sĩ. Bài thơ được viết ở hang đá rừng Lào. Viết sau khi chôn xác bạn trở về, viết trong tâm trạng xót xa, thương tiếc. Có tứ, có cảm xúc nhưng còn bút pháp thể hiện, một khâu rất quan trọng trong sáng tác? Phải nói hồi đó tôi chưa phải là người viết có tay nghề, hay nói đúng hơn tôi còn chập chững những bước đi ban đầu trong sáng tác, thi thoảng may mắn lắm mới có một bài thơ in báo. Nhưng trong sáng tác mọi yếu tố thường bổ sung cho nhau. Có lẽ do tứ bài thơ vững, do cảm xúc mạnh đã tạo đà cho cách diễn đạt liền mạch. Bài thơ được viết tương đối nhanh, câu nọ nối câu kia, đoạn này nối đoạn khác. Từ trường hợp hy sinh của bạn mình, tôi có được những đoạn thơ khái quát về sự hy sinh lớn lao của người chiến sĩ.

Viết xong bài thơ, tôi có đọc cho một số người nghe. Sau, tôi sửa chữa thêm và chép vào sổ tay. Chừng vài năm, có dịp ra Hà Nội, tôi mới gửi bài thơ in ở Tạp chí Tác phẩm mới. Tôi được in một chùm thơ bốn bài trong đó có bài “Nấm mộ và cây trầm”. Tôi không ngờ bài thơ của tôi được dư luận khen, được Hội Nhà văn và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trao giải thưởng chính thức về đề tài thương binh, liệt sĩ.

Từ khi bài thơ “Nấm mộ và cây trầm” ra đời đến nay, thời gian tưởng như xóa nhòa mọi chuyện. Nhiều bài thơ tôi viết, có bài tôi quên cả xuất xứ, cảnh ngộ. Riêng bài thơ “Nấm mộ và cây trầm”, thường gợi lại cho tôi kỷ niệm khó quên với một người đồng đội đã hy sinh trên chiến trường đất bạn.

Lại nhớ có lần cách đây chừng 20 năm, tôi có về công tác tại Hải Phòng. Nhà thơ Thanh Tùng dẫn tôi đến nhà một bác công nhân già. Qua tâm sự, tôi biết bác có người con trai là Hùng hy sinh ở mặt trận. Bác còn lưu giữ bài thơ “Nấm mộ và cây trầm” của tôi. Bác bảo, bác biết nhân vật Hùng trong bài thơ không phải là con trai bác bởi bài thơ tôi viết trước khi con trai bác hy sinh chừng ba bốn năm. Tuy thế, bác vẫn giữ bài thơ và mong gặp tác giả. Gặp tôi, bác thoáng mừng nhưng lại buồn ngay. Buồn vì đứa con trai của bác đã ra đi vĩnh viễn không về. Ngoài những lời thăm hỏi chung chung, tôi không có cách gì an ủi được bác.

Bài thơ “Nấm mộ và cây trầm” còn gợi cho tôi những suy nghĩ về nghề nghiệp. Cách đây hơn ba mươi năm, tôi mới bước vào nghề, ở độ tuổi trẻ trung sôi nổi, tôi làm thơ để bày tỏ những buồn vui, cảm xúc riêng mình. Còn bây giờ, tay nghề tôi có vững hơn, mọi suy nghĩ về lẽ đời thấu đáo hơn nhưng nếu cằn cỗi, thiếu cảm xúc, đa ngôn tự huyễn hoặc mình, tôi sẽ sa vào ngõ cụt của sự bế tắc...

Có thể bạn quan tâm