Nhận diện sự giao thoa văn hóa
Trong quá trình nghiên cứu và nhận diện sự giao thoa văn hóa, kiến trúc Pháp - Việt tại thành phố Huế, Thạc sĩ, kiến trúc sư Nguyễn Thị Hiền, Khoa Kiến trúc, Trường đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng đã rút ra nhiều nhận định thú vị. Theo đó, về bố cục mặt bằng các công trình được chia thành bốn xu hướng với các đặc trưng.
Dạng thứ nhất, mặt bằng hình chữ nhật, nhà một tầng đối xứng, sảnh chính dẫn vào không gian sang trọng, hai bên là không gian phụ. Dạng thứ hai, mặt bằng hình chữ nhật, công trình từ 2- 3 tầng, đối xứng. Trong đó, cầu thang chuyển tầng không đặt đối xứng, sảnh đón là điểm nhấn của công trình, được bố trí nhô ra.
Dạng thứ ba, nhà một tầng, mặt bằng dàn đều hai bên và có hành lang. Dạng thứ tư, mặt bằng không đối xứng, không gian linh hoạt, thoát khỏi các tỷ lệ. Các công trình dạng thứ tư có thể được xây dựng vào cuối thời kỳ Pháp thuộc, khi con người có cái nhìn hiện đại hơn.
Đánh giá về sự tương đồng, ảnh hưởng của kiến trúc địa phương Huế, đến các công trình kiến trúc Pháp, chị Hiền cho rằng: “Yếu tố phương Tây thay đổi tuân theo bố cục gian-chái và trải rộng theo chiều ngang. Mái lợp ngói nhiều lớp như ngói liệt, ngói vảy cá, ngói lưu ly theo hình thức cung đình Huế. Hệ mái các ngôi nhà thuộc địa vẫn mô phỏng theo hệ mái căn nhà truyền thống Huế. Điều khác biệt là các công trình kiến trúc Pháp có mặt đứng hai tầng, trong khi ngôi nhà truyền thống chỉ một tầng”.
Phong cách cung đình Huế thường được biết đến ở các hoa văn trang trí đắp nổi cùng nghệ thuật khảm sành sứ, thủy tinh. Xuyên suốt chiều dài lịch sử, các chủ đề hoa lá, thiên nhiên như: Mai, liên, cúc, trúc,... và chủ đề con vật như lân, rồng, phượng thường được đưa vào hoa văn đắp nổi.
Thực tế, tại các công trình kiến trúc Pháp, việc kết hợp phong cách cung đình Huế với họa tiết phương Tây như lá phong, chùm nho, đồng hồ là điều thường thấy. Tất cả tạo nên nét mềm mại, sự hài hòa đa văn hóa cho công trình. “Đã có một sự chuyển biến lớn, tích cực trong lối sống và sinh hoạt hằng ngày của người dân địa phương Huế khi họ tiếp nhận luồng văn hóa, văn minh phương Tây thông qua quá trình chinh phục thuộc địa của người Pháp.
Ngược lại, nền kiến trúc truyền thống lâu đời của triều Nguyễn cũng đã tác động rất lớn đến những suy nghĩ, thiết kế của người Pháp. Từ đó, buộc người Pháp phải thay đổi để thích nghi”, chị Hiền nhận định.
Trục phố Lê Lợi (trước đây có tên là Jules Ferry) được biết đến là khu phố “Tây” thời kỳ Pháp thuộc, là trục phố cốt lõi hình thành và tạo tiền đề phát triển đô thị Huế sau này. Bản chất không gian đô thị phố “Tây” nằm ở bờ nam sông Hương với các công trình như: Trường Quốc học Huế, khách sạn Saigon Morin, Trường đại học Sư phạm Huế, Trường THPT Hai Bà Trưng, Bệnh viện Trung ương Huế,... được người Pháp quy hoạch với mật độ công trình ít và thấp tầng; ngược lại, mật độ cây xanh và khoảng rỗng sân vườn lại nhiều. Điều này rất tương đồng với cách quy hoạch nhà vườn, phủ đệ hay trong Kinh thành.
Trong bối cảnh nhiều công trình kiến trúc Pháp tại thành phố Huế đã bị phá hủy hoặc biến dạng đáng kể, phố Lê Lợi vẫn còn hiện hữu 14 công trình với tổng số 27 hạng mục kiến trúc riêng lẻ. Các công trình Pháp tại đây được xây dựng theo phong cách Tiền thuộc địa, Tân cổ điển, Địa phương Pháp, Art Deco và Đông Dương.
Trong đó, phong cách Tân cổ điển chiếm đa số với tổng cộng 10 công trình. Đơn cử, như khách sạn Saigon Morin (nằm ngay đầu cầu Trường Tiền). Được xây dựng vào năm 1901, đây là khách sạn đầu tiên ở Trung Kỳ. Ban đầu có hai tầng ở tiền sảnh và một tầng ở hai cánh. Sau nhiều lần cải tạo và nâng cấp, khách sạn trở thành bốn tầng vào năm 1995 cho đến hiện nay.
Giá trị của khoảng mở đô thị
Bản chất đô thị theo lối kiến trúc Pháp ở thành phố Huế chính là đô thị kiểu vườn, được quy hoạch khoảng mở, khoảng rỗng rất Huế, rất Việt Nam. Có thể thấy, người Pháp đã có sự tiếp nhận cách quy hoạch của người dân bản địa; còn ở châu Âu không quy hoạch theo hình thức như vậy mà xây dựng đô thị theo tính tập trung cao, mang dáng vẻ của đô thị Trung cổ.
Phân tích sâu về khoảng mở đô thị trong kiến trúc thành phố Huế, Thạc sĩ, Kiến trúc sư Nguyễn Thanh Tùng, người sáng lập Văn phòng kiến trúc ANTT Architects (thành phố Huế) cho rằng, tính chất “xanh” trong khái niệm khoảng mở đô thị bắt đầu từ những ngôi nhà vườn. Đối với nhà vườn, phần nhà thường chiếm diện tích nhỏ và phần vườn luôn rộng lớn.
Thí dụ, tại Trường Quốc học Huế, phần không gian cây xanh cùng sân vườn vẫn được gìn giữ, bảo vệ nghiêm ngặt. Ngoài giá trị về mặt kiến trúc thì phần không gian xanh còn thể hiện giá trị sinh thái, cảnh quan. Khi các đô thị có tốc độ đô thị hóa quá nhanh luôn cần một “điểm thở”, đó là yếu tố cây cối.
Đối với quy mô một thành phố, yếu tố rỗng được hiểu là những dòng sông và mạng lưới sông ngòi; những tuyến phố có cây xanh, công viên, khu vui chơi công cộng và cả những ngôi nhà vườn. Những năm gần đây, xu hướng xây dựng nhà cửa có sự thay đổi từ khoảng rỗng sang khoảng đặc, rồi chuyển đến khoảng mở tạo sự thông thoáng, liên kết và gần gũi với thiên nhiên.
Những yếu tố đặc trưng của rỗng và mở góp phần quan trọng vào việc khẳng định nét đặc trưng riêng của đô thị Huế. “Mặc dù vẫn còn vấp phải sự khác biệt giữa nhà phương Tây và nhà ta, nhưng mối quan hệ giữa kiến trúc Pháp với khoảng mở đô thị của thành phố Huế có một điểm chung chính là rất thống nhất về mặt cảnh quan. Khi đô thị Huế tiếp tục phát triển, khoảng mở dần thu hẹp ở một mức độ nào đó”, anh Nguyễn Thanh Tùng chia sẻ.
Ở thành phố Huế, quỹ kiến trúc Pháp thuộc không quy mô, đồ sộ như ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt. Đến thời điểm hiện tại, đã có 89 công trình Pháp thuộc được Tiến sĩ, kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Tùng, Trưởng khoa Kiến trúc, Trường đại học Khoa học, Đại học Huế khảo sát, ghi nhận tại Huế.
Trong đó, có 43 công trình chưa rõ năm xây dựng. Theo anh Tùng, từ những giá trị riêng có, để bảo vệ tính rỗng và khoảng mở của đô thị Huế thì các yếu tố như môi trường, cảnh quan thiên nhiên, các tiện ích công cộng và câu chuyện thoát nước mùa lũ lụt cần được quan tâm hơn hết.