Trong thời gian từ tháng 5-2008 đến tháng 10-2009, các nhà khoa học tham gia Ðề tài đã hoàn thành cơ bản nội dung: Lựa chọn, tập hợp, phân tích, xây dựng hệ thống dữ liệu và đánh giá hiện trạng biến đổi khí hậu và mực nước vùng ven bờ biển và hải đảo Việt Nam. Hệ thống dữ liệu cho phép khẳng định hiện trạng biến đổi khí hậu thông qua tập hợp các số liệu quan trắc khí tượng, hải văn và mực nước cập nhật đến hết năm 2007.
Trong xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu, các đặc trưng khí tượng cơ bản như nhiệt độ, lượng mưa... cho từng khu vực luôn được thể hiện thông qua những dao động có chu kỳ khác nhau mang tính chất địa phương trên nền biến đổi quy mô chung. Những kết quả xử lý và phân tích các chuỗi số liệu quan trắc khí tượng - hải văn trong thời gian gần đây, bước đầu đã cho thấy những đặc điểm biến động dài hạn cũng như xu thế biến đổi của một số đặc trưng khí hậu quan trọng như nhiệt độ không khí, nhiệt độ nước biển và lượng mưa trên khu vực biển và dải ven biển Việt Nam. Có thể nhận thấy xu thế ấm lên đáng kể của không khí và nước biển trên khu vực nghiên cứu, trong đó nhiệt độ không khí trung bình tăng tương đối đều khoảng 0,2 độ C/10 năm tương đương xu thế toàn cầu của IPCC4. Trong đó, nhiệt độ tăng thấp nhất là 0,05 độ C/10 năm ở Phú Quý; nhiệt độ tăng cao nhất ở Bãi Cháy và Vũng Tàu là 0,26 độ C/10 năm. Nhiệt độ nước biển có sự gia tăng nhiều hơn và khác biệt hơn giữa các vùng biển Việt Nam. Trong đó nhiệt độ trung bình nước biển tăng cao nhất là ở Cồn Cỏ 0,66 độ C/10 năm; tăng trung bình thấp nhất là Côn Ðảo 0,04 độ C/ 10 năm. Nhiệt độ nước biển ở Ðà Nẵng (sau 22 năm đo liên tục) không thay đổi, luôn ở nhiệt độ trung bình 26,57 độ C/10 năm. Ðối với lượng mưa xu thế tăng lên khoảng 110 mm/10 năm tại vùng Trung Trung Bộ và giảm trên vùng biển phía nam và Vịnh Bắc Bộ. Trong đó nơi có lượng mưa trung bình tăng cao nhất trong mỗi năm là 129 mm/10 năm ở Trường Sa; giảm thấp nhất trong mười năm qua là ở Vũng Tàu 53 mm/10 năm.
Bão nhiệt đới hoạt động trên khu vực Tây Thái Bình Dương (TTBD) và Biển Ðông (BÐ) có sự biến đổi mạnh về số lượng cũng như cường độ dẫn đến những hệ quả khó dự báo trước đối với các hoạt động kinh tế và dân sinh trên biển cũng như dải ven bờ, nguyên nhân của sự biến động này vẫn chưa được xác định. Kết quả phân tích, thống kê số liệu bão tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau đến năm 2008 cho thấy số lượng trung bình năm bão và siêu bão (SB) hoạt động ở TTBD, BÐ cũng như đổ bộ vào dải ven biển Việt Nam dao động theo các chu kỳ dài từ hai năm đến nhiều chục năm. Chưa thấy xu thế gia tăng số lượng bão và SB ở các khu vực nêu trên, thậm chí số lượng SB còn có xu thế giảm. Trong năm thập niên gần đây, số lượng bão gây ảnh hưởng trực tiếp đến ven bờ biển Vịnh Bắc Bộ giảm, trong khi ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ lại gia tăng.
Nằm trong khu vực chịu tác động chi phối của chế độ gió mùa và những dao động khu vực và toàn cầu như ELSO, PDO, dao động mực nước biển ven bờ biển Việt Nam luôn thể hiện các chu kỳ dao động dài cỡ năm và nhiều năm. Trên cơ sở phân tích các chuỗi số liệu mực nước nhiều năm bằng các phương pháp thống kê đơn thuần cũng như kỹ thuật wavelet, bước đầu đã xác định vai trò của các dao động chu kỳ một năm, từ hai đến 7-8 năm. Những kết quả phân tích cũng cho thấy xu thế biến đổi mực nước biển do tác động của biến đổi khí hậu và các nguyên nhân khác cũng không như nhau đối với các vùng biển.
Thông qua kết quả phân tích số liệu đo mực nước biển tại 25 trạm dọc theo bờ biển nước ta trong khoảng từ 22 năm đến 46 năm, các nhà khoa học đã đưa ra kết luận ban đầu: Mực nước biển có chỗ tăng, có chỗ giảm. Thí dụ, mực nước biển mỗi năm tăng trung bình 4,7 mm tại Phú Quý; 3,8 mm tại Hòn Dấu. Trong khi đó mực nước biển lại giảm -6mm tại Hòn Ngư và -4,6mm tại Phú An. Theo PGS. TS Phạm Văn Huấn, mực nước biển ở Việt Nam tính trung bình mỗi năm chỉ tăng khoảng 1mm.
Những kết quả nghiên cứu này là căn cứ quan trọng để các cấp có thẩm quyền xem xét trong việc xây dựng và phát triển các phương pháp dự báo và cảnh báo mực nước biển, đặc biệt mực nước cực trị cho dải ven bờ phục vụ các yêu cầu quy hoạch, xây dựng và bảo đảm hoạt động các công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế biển Việt Nam.
HÀ HỒNG