Triển lãm 100 năm đám cưới Việt Nam:

Không chỉ là những bức ảnh

Cô dâu Vũ Thị Nhung,
năm 1954.
Cô dâu Vũ Thị Nhung, năm 1954.

Với hơn 100 bức ảnh được lựa chọn từ gần 800 ảnh đám cưới tại nhiều vùng trong cả nước, cuộc trưng bày đã đem lại cho người xem gần như một cuốn lịch sử đám cưới bằng ảnh. Bên cạnh đó, còn có rất nhiều hiện vật, tư liệu khác như áo cưới, gối cưới, xích lô đưa lễ ăn hỏi, thư tình, thiệp cưới, băng hình, giấy giá thú (sau này gọi là giấy đăng ký kết hôn), quà mừng… Cuộc trưng bày kéo dài ba tháng, từ 25-11-2005 đến 25-2-2006.

Tại buổi khai mạc diễn ra ngày 25-11, có thể bắt gặp rất nhiều người không giấu được sự xúc động trước những tấm ảnh đám cưới của ông bà, cha mẹ, của chính những người thân trong gia đình họ… Nghệ sĩ, diễn viên điện ảnh Như Quỳnh là một trong số đó. Chỉ vào bức ảnh cưới cha mẹ mình là hai nghệ sĩ Tiêu Lang và Kim Xuân (ảnh bên) , chị kể: “Các cụ kể rằng hồi đó nhà trai đi ăn hỏi phải đem theo lễ vật gồm cả gánh bánh chưng bánh dày đến nhà gái”.

Gia đình nghệ sĩ Như Quỳnh đã đóng góp cho Bảo tàng khá nhiều ảnh, hiện vật, bao gồm một cuốn album ảnh cưới ( có 4 ảnh được Bảo tàng phóng to), 1 cuốn phim 8mm quay đám cưới, tờ lịch ngày cưới, ảnh đám cưới Vàng kỷ niệm 50 năm của ông bà, ảnh cưới của chính chị Như Quỳnh…

Sự phong phú của cuộc trưng bày, đặc biệt là những ảnh cưới thời kỳ 1930-1945 và đám cưới thời chiến đã thu hút rất đông người xem, đặc biệt là thanh niên. Có thể thấy rõ sự thay đổi của xã hội Việt Nam đằng sau những bức ảnh này rất rõ nét.

   
Áo chú rể may bằng gấm thất thể
và áo cô dâu bằng nhiễu hồng (năm 1930).

Bức ảnh cưới sớm nhất hồi đầu thế kỷ tại cuộc trưng bày là ảnh đám cưới của Vua Hàm Nghi với bà Laloé tại An-giê-ri năm 1904. Bà Laloé sinh năm 1884, là con gái của một luật sư. Đám cưới được tổ chức vào thời gian nhà vua bị thực dân Pháp lưu đày tại đồi El Biar, cách An-giê 12km.

Sau này, Vua Hàm Nghi và bà Laloé có với nhau 3 người con: một hoàng nam và hai hoàng nữ. Năm 1944, nhà vua qua đời tại biệt thự Gia Long trên đồi El Biar. Bức ảnh cưới mang đậm dấu ấn của sự kết hợp Pháp-Việt: xe ngựa mui trần, cô dâu mặc váy trắng, mũ rộng vành, mang một chiếc ô nhỏ, chú rể mặc lễ phục Nam triều theo truyền thống Việt Nam, đội khăn xếp.

Có thể nhận thấy những bức ảnh cưới thời kỳ nửa đầu thế kỷ 20 phần lớn là của các gia đình khá giả, do có điều kiện chụp và lưu giữ ảnh. Hồi đầu thế kỷ, phần lớn các đám cưới đều ăn mặc theo lối cổ: chú rể mặc áo the hoặc áo gấm đen, đội khăn xếp, đi giày Gia Định, cô dâu mặc áo lụa, nhiễu hoặc gấm, (thường là màu đỏ), đội khăn vành dây, chân đi hài cườm, và không thể thiếu chiếc kiềng vàng trên cổ. Có những bức ảnh người đi dự đám cưới cười thật tươi phô hàm răng nhuộm đen bóng…

  
Xúc động khi dặn dò con gái.

Một trong những đám cưới có nhiều ảnh được trưng bày và cũng thu hút sự chú ý của người xem là đám cưới của ông bà Đỗ Xuân Viên và bà Vũ Thị Nhung (năm 1954), bao gồm các bức ảnh đón dâu, cô dâu xuống xe hoa, cô dâu, chú rể cùng các bạn phù dâu, phù rể… Một đám cưới điển hình của thời bấy giờ: áo dài gấm, khăn đóng, kiềng vàng, đón dâu bằng một đoàn ô-tô. Cô dâu trong ảnh còn rất trẻ, mặt lúc nào cũng cúi, ánh mắt hơi buồn pha chút lo âu, khác với vẻ tươi tắn thường thấy ở những cô dâu sắp về nhà chồng.

Bà Vũ Thị Nhung vui vẻ kể lại: “Hồi đó tất cả mọi chuyện đều thông qua bà mối. Năm ấy tôi mới 17 tuổi, lại là con út, ở nhà được chiều chuộng quen rồi, đi lấy chồng cả nhà đều thương nên vẻ mặt mới buồn và sợ…”

Một bức ảnh khác của bà "chứng minh" cho điều này: Cô dâu và một cô phù dâu khóc thút thít, bố cô dâu dùng khăn tay chấm nước mắt. Chú thích: “Xúc động khi dặn dò con gái”.

Những bức ảnh cưới thời chiến cũng góp mặt khá nhiều trong cuộc trưng bày, nếu tính đến hoàn cảnh khó khăn của việc chụp và lưu giữ ảnh trong điều kiện thời bấy giờ.

Có thể bắt gặp ảnh đám cưới của ông bà Trịnh Hải và Phạm Thuý Hà (năm 1953) với cô dâu chú rể trong bộ quần áo nâu sồng như những người nông dân thực thụ. Đám cưới của ông bà tổ chức vào ban đêm, thắp đèn dầu vì sợ bị máy bay Pháp ném bom.

“Tiệc cưới” giản dị đến không ngờ: nước vối, xôi chè và bữa liên hoan văn nghệ tưng bừng của bạn bè và chính cô dâu chú rể. Không hoa, không áo cưới, không ô-tô, đón dâu xong là đi bộ từ Bắc Giang tới Thái Nguyên, quê của cô dâu và cũng là vùng tản cư, vậy mà ông bà sống với nhau thật hạnh phúc:

“Chưa từng một lần to tiếng, nặng lời, đi đâu cũng có nhau, giống như hai nửa của nhau…” Ông Trịnh Hải sau này trở thành phóng viên ảnh của Báo Nhân Dân trong hơn 40 năm.

  
Đám cưới ông bà Trần Bá Kỳ và Vi Kim Quý.

Còn nữa, những bức ảnh cưới thời chiến với “phông” là chiếc xe tăng và căn hầm Đờ Cát, hay hôn trường đặt ngay tại chiến trường, với bàn tiệc là những thùng đạn trải vải dù, lọ hoa bằng vỏ đạn và không thể thiếu khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết” hay “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ”… đã đem lại những xúc động thực sự cho người xem.

Ảnh cưới của ông bà Trần Bá Kỳ và Vi Kim Quý tại nơi tản cư của trường Đại học Y ở Tuyên Quang năm 1951 với hôn trường là vài bộ bàn ghế đơn sơ, một cái lán nứa, căng vải dù chiến lợi phẩm làm rạp. (Chú bé ngồi trên ghế giữa ảnh chính là GS, BS Tôn Thất Bách sau này).

Cũng không thể không nhắc đến những bức ảnh cưới thời bao cấp, khi đất nước còn nghèo, những đám cưới diễn ra với những công thức gần giống nhau: cô dâu mặc áo dài trắng, hoặc giản dị hơn nữa, chỉ là áo sơ mi trắng; tiệc gồm chè, thuốc lá, bánh kẹo phân phối, thêm vài bông hoa…

Đồ mừng cũng là những vật dụng thiết thực cho cuộc sống gia đình sau này như nồi, chậu nhôm, quạt con cóc, mảnh vải… Thậm chí có những đám cưới hoàn toàn do đoàn thể tổ chức, quần áo cô dâu chú rể cũng chỉ là đồ đi mượn.

Bà Vũ Thị Phim (thị trấn Văn Điển, Hà Nội, tổ chức đám cưới năm 1970) cho biết: “Chúng tôi tổ chức đám cưới hồi đó rất khó khăn, đến quần áo của chú rể hồi đó cũng phải đi mượn, từ áo sơ mi cho đến cà vạt, thắt lưng… Tiêu chuẩn vải chỉ đủ may đôi gối cưới mà thôi”. Đôi gối cưới này do bà Phim tự may, cũng được tặng lại cho Bảo tàng, vẫn còn nguyên vẹn những đường thêu…

Những đám cưới thời kỳ này ở miền nam thì cầu kỳ hơn: Cô dâu mặc áo dài đỏ, tay loe, cổ thuyền, trang điểm theo kiểu nghệ sĩ cải lương, tóc uốn thành từng lọn to…

Ảnh cưới của thời hiện tại không nhiều, và ấn tượng để lại cũng không sâu sắc, chỉ là miếng ghép cho đầy đủ bức tranh lớn về đám cưới Việt trong suốt một thế kỷ qua.

 
Đón cô dâu về đất liền (Quảng Ninh, 2003).

Tuy nhiên,những bức ảnh cưới thời nay cũng cho thấy một sự thay đổi lớn lao trong xã hội, cũng như trong tập tục cưới xin. Những đám cưới mang ảnh hưởng của nước ngoài nhiều hơn, từ áo cưới kiểu Hồng Công, Hàn Quốc cho đến tục rót rượu, cắt bánh ga-tô… Có cả những hình ảnh cô dâu Việt lấy chồng nước ngoài, chú rể cũng đứng chắp tay thành kính trước bàn thờ gia tiên nhà gái, vẻ mặt đầy trang trọng… Phương tiện đón dâu thì rất phong phú: Tàu đánh cá (đám cưới ở Quảng Ninh, năm 2003), xe máy (đám cưới ở Hà Tây, năm 2005) cho đến ô-tô lớn nhỏ…

Ảnh cưới của những người dân tộc thiểu số chiếm một góc rất nhỏ của cuộc trưng bày, nhưng cũng cho thấy những nét đặc sắc thú vị của đám cưới Việt: Lễ đón dâu của người Chu Ru, người Dao, người Mông, hôn lễ theo nghi thức Hồi giáo của người Chăm…

Một phần không thể thiếu của cuộc trưng bày là giấy đăng ký kết hôn và thiệp cưới. Có những giấy hôn thú từ hồi đầu thế kỷ, gọi là giấy khai giá thú, được viết bằng ba thứ tiếng quốc ngữ, Hán và Pháp.

Giấy hôn thú của ông Lê Trung Châu (ở Hà Đông) ghi, vợ cả là bà Trịnh Thị Mùi, vợ thứ là bà Trịnh Thị Sen, đăng ký trong cùng một ngày 25-7-1932. Từ năm 1954 trở về sau, giấy khai giá thú được đổi thành giấy đăng ký kết hôn, đã rút gọn đi rất nhiều và có các điều khoản thể hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng, quyền tự do kết hôn.

Bộ sưu tập thiệp cưới tại Bảo tàng cũng khá phong phú, với những tấm thiệp tự vẽ, viết tay, thiệp báo hỷ của một số nhà tư sản Hà Nội xưa..., cho đến những tấm thiệp làm theo phong cách nước ngoại, in rất cầu kỳ, có kèm theo cả ảnh cô dâu chú rể...

Cuộc trưng bày đã tạo ấn tượng tốt đẹp cho không ít người xem, đặc biệt là những vị khách nước ngoài… Anh A. Norates (Tây Ban Nha) cho biết, anh rất ngạc nhiên và thú vị khi được tận mắt nhìn ngắm những đám cưới xưa của người Việt. Trang phục rất đẹp, nhất là áo của các cô dâu, và điều làm anh thích thú nhất là những nụ cười “đen nhánh” của các bà, các cô nhuộm răng…”.

Còn vợ chồng ông bà Peter Kaufmann đến từ Alaska (Mỹ) thì nhận xét: “Đây là một triển lãm thực sự gây xúc động đối với người xem. Mọi người không chỉ đơn thuần đến ngắm những bức ảnh, mà họ đến để nhìn lại cuộc sống của ông bà, cha mẹ họ…, hoặc cuộc sống của chính họ. Họ cảm thấy những bức ảnh đó thực sự sống động và gần gũi, bởi vì đây hoàn toàn là những con người thật, những câu chuyện thật. Một triển lãm thật tuyệt vời mà chúng tôi chưa từng thấy”.

Xuyên suốt 100 năm, dù có thay đổi nhiều về hình thức và tập tục, nhưng những đám cưới Việt vẫn có nét chung lớn nhất, đó là ý thức về một hạnh phúc được xây đắp bằng tình yêu chung thuỷ, sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau, đó chính là cái hồn làm nên truyền thống gia đình của người Việt.

Có thể bạn quan tâm