Khôi phục hát "hạn khuống" ở Sơn La

Mấy tuần nay, bà Lò Thị Cành, 70 tuổi, ở bản Cang Mường, xã Mường Trai, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, rất vui khi biết rằng chính quyền xã cùng với Bảo tàng Sơn La và Sở Văn hóa Thông tin của tỉnh sẽ phục dựng sinh hoạt “hạn khuống”, vốn lâu lắm rồi không còn thấy ở xã Mường Trai.

Bà Cành nhớ lại ngày bà còn rất nhỏ, bà có nghe ông bà nhắc đến “hạn khuống” như một sinh hoạt văn hóa dân gian của người Thái đen ở Mường Trai. Bà cho biết theo lời kể của các cụ ngày xưa, “hạn khuống” được hiểu là hát đối đáp giao duyên của thanh niên nam, nữ vào những đêm trăng sáng, thường là sau mùa thu hoạch. Nhưng trong suốt mấy chục năm sau đó, bà chỉ đôi lần nghe mọi người nhắc đến “hạn khuống” mà thôi. Những người cùng độ tuổi bà Cành ở Mường Trai cũng chỉ biết sơ qua về sinh hoạt văn hóa này qua lời kể của ông bà họ, còn lớp trẻ ở Mường Trai hôm nay thì càng không biết.

Vì vậy, trong nỗ lực nhằm khôi phục lại hoạt động văn hóa này, cũng như để lưu giữ lại giá trị văn hóa cho các thế hệ sau của người Thái đen ở Mường Trai, Sở Văn hóa Thông tin Sơn La đã chỉ đạo Bảo tàng Sơn La tổ chức phục dựng hạn khuống ở trung tâm của xã Mường Trai. Bà Cành và những người cao tuổi trong xã hy vọng đây là dịp để con cháu họ biết về di sản văn hóa của cha ông và tiếp tục lưu giữ, không để bị thất truyền. Do đó, dù còn lâu mới đến giờ khai mạc, sân Trung tâm Văn hóa xã Mường Trai đã có rất đông bà con trong xã đến xem.

“Hạn khuống” trong tiếng Thái có nghĩa là “cái sàn dựng ngoài sân” (“hạn” là “sàn” còn “khuống” là “sân”). Trước đây, người Thái thường tổ chức hạn khuống vào khoảng giữa hai mùa thu và đông. Trong quãng thời gian này, tiết trời khô ráo, công việc nhà nông đã vãn, các thiếu nữ Thái trổ tài bật bông, kéo sợi, may vá và thêu thùa.

Hạn khuống thường là hình vuông, được làm bằng tre (cũng có nơi làm bằng gỗ) có chiều cao khoảng 1,0 -1,5m so với mặt đất. Chiều dài mỗi cạnh hạn khuống là 5m.  Bao quanh hạn khuống là lan can làm bằng tre (đan hình mắt cáo), có chiều cao khoảng 0,7m. Hạn khuống chỉ có một cửa lên, xuống với cái thang gồm ba bậc. Ở giữa hạn khuống là một bếp lửa hình vuông. Bên cạnh bếp lửa có một cây tre, róc sạch cành, chỉ để lại chùm lá trên ngọn. Đây là lắc xáy cốc (cây nêu gốc). Ở bốn góc hạn khuống cũng có bốn lắc xáy, nhưng thấp hơn lắc xáy cốc. Lắc xáy cốc và bốn lắc xáy được trang trí bằng những chiếc vòng tre có đường kính to dần từ dưới lên (các vòng tre này có đường kính 80cm, 70cm và 60cm). Các vòng tre này được treo cách nhau bốn gióng tre. Trên mỗi vòng tre có treo những hình các con vật như thú rừng, chim chóc, hoa quả làm bằng giấy, hoặc đan bằng mây, tre. Các hình này tượng trưng cho triết lý vũ trụ muôn loài và càn khôn tương hợp, cũng như ước muốn của người Thái xưa về cuộc sống sung túc.

Nam nữ thanh niên hát đối đáp
giao duyên trên hạn khuống.

Thông thường, mỗi đêm trong mùa hạn khuống phải có đủ năm cô gái xinh xắn, chưa lập gia đình, đặc biệt là những cô tháo vát, chăm chỉ và được học hành. Một cô sẽ được được tôn làm “tổn khuống” (tướng sân) và sẽ ngồi bên lắc xáy cốc. Tổn khuống sẽ là người chủ trò, điều khiển, và giữ nhịp cho các câu đối đáp. Các cô gái khác sẽ ngôi ở chân bốn lắc xáy ở bốn góc hạn khuống.

Hạn khuống sẽ bắt đầu bằng việc dâng lễ vật gồm có rượu thịt xin phép thần linh. Năm cô gái và thầy mo, trưởng bản và già làng sẽ làm lễ trên hạn khuống. Tổn khuống sẽ cầm bó đuốc rực cháy đi vòng quanh hạn khuống và đốt đống lửa ở giữa sàn. Bốn cô gái khác sẽ lần lượt mang quay tơ, và các dụng cụ thêu thùa lên hạn khuống. Khi tế lễ xong xuôi, thang ba bậc đã được cất đi, các cô gái trên hạn khuốn cất tiếng hát. Lời bài hát vốn là thơ ca dân gian của người Thái, hoặc các câu gồm năm, sáu từ:

“Tiếng sáo từ phương nào vọng về
Tiếng trong như suối chảy
Dào dạt tựa mây trôi
Bay về hòa tiếng guồng quay sợi
Để lòng em xao xuyến bâng khuâng...”

Các chàng trai từ các bản xa đến, người kéo nhị, người thổi khèn, cùng hát đối xin các cô thả thang xuống cho mình lên, họ hát:

“Chúng tôi đứng xa nhìn thấy lửa
Nhìn thấy lửa muốn được hơ áo
Ở xa nhìn thấy nước
Nhìn thấy áo chàm đen mong được ướm thử
Nhìn thấy người má hồng lòng muốn được hỏi thăm...”

Cứ như vậy, người trên, kẻ dưới hát đối nhau với nội dung và ca từ do các cô “quyết định”. Đến khi các cô gái trên hạn khuống thấy ưng cái bụng, họ mới thả thang xuống cho các chàng trai lên chơi cùng.

Sau đó, từng cặp nam nữ ngồi sát bên nhau. Nam thì trổ tài đan lát, còn nữ không ngừng quay tơ, thêu thùa. Khung cảnh đó thể hiện mong ước của người xưa về một gia đình ấm êm và hạnh phúc. Vừa trổ tài lao động, họ đối đáp nhau những câu hát tâm tình.  

Trăng lên cao, các thiếu nữ và chàng trai trên hạn khuống uống rượu cần và bói tình duyên. Những người chơi (khoảng từ một đến bốn người) đến ngồi xung quanh chum rượu cần đặt cạnh lắc xáy cốc. Trong chum rượu đã đổ đầy nước có bốn cần rượu và bốn cái que bằng đóm hút thuốc hoặc bằng lạt dài khoảng 4-5cm bẻ gập vuông góc. Bốn que này, một đầu được đặt trên mặt chum rượu, đầu kia để thõng ra ngoài chum.

Tổn khuống đọc bài bói rượu:

“Người thương, người ôm chăn đến tìm
Người thương, người ôm chiếu đến nhà
Chọn bạn được người khôn
Yêu được người bạn tốt
Có cửa nhà giàu sang
Chọn được người khó tính
Suốt ngày chỉ ghen tuông
Nhà khó khăn nghèo đói
Không khéo thành người hầu
Làm giỏi sẽ thành quan
Yêu được người trong bản
Số được bạn phương xa”.

Khi tổn khuống đọc bài bói, bốn người kia sẽ uống rượu. Khi rượu trong chum cạn, những que bói sẽ rơi ra ngoài. Người Thái tin rằng khi que của ai rơi ứng với câu bói nào mà tổn khuống đọc, số phận của họ sẽ ứng như vậy.

Các cô gái vừa hát đối đáp,
vừa trổ tài quay tơ, dệt vải.

Trời về khuya, những người lớn tuổi đã ra về, chỉ còn lại các thiếu nữ và các chàng trai tiếp tục chơi hạn khuống, hát giao duyên, cho đến khi trăng lặn mới giã từ nhau. Những hẹn hò tái ngộ bên hạn khuống được các chàng trai và cô gái trao đi nhận lại, làm dùng dằng thêm phút chia tay.

Cũng từ sinh hoạt hạn khuống mà nhiều người đã nên vợ nên chồng.   

Có mặt trong buổi phục dựng lại sinh hoạt hạn khuống của đồng bào Thái ở Mường Trai, ông Lò Văn Hặc, phó giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Sơn La, cho biết:

“Việc phục dựng sinh hoạt hạn khuống của đồng bào Thái đen phù hợp với chủ trương của tỉnh Sơn La trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa 8 về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Theo đó, tỉnh sẽ phục dựng hoạt động này ở các địa phương trong tỉnh, qua đó giúp nhân dân địa phương bảo tồn các giá trị văn hóa.”

Trong quy hoạch xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La, xã Mường Trai nằm trong vùng ngập nước, người dân ở đây sẽ phải di dời trước năm 2008. Rồi đây, cái tên Mường Trai có thể sẽ không còn trên bản đồ của huyện Mường La, nhưng con cháu của bà Cành và rất nhiều người lớn tuổi trong xã hôm nay sẽ tiếp tục lưu truyền sinh hoạt hạn khuống, không để nó bị mai một theo thời gian.

Có thể bạn quan tâm