Thơ hàn gắn vết thương
Trong các hội thảo và đêm thơ tại Hà Nội, Quảng Ninh, Bắc Ninh, nhiều nhà nghiên cứu, nhà thơ quốc tế đã bày tỏ suy nghĩ, tình cảm mến phục Việt Nam qua những trang thơ, bài viết của mình. Thật cảm động khi bạn bè quốc tế từ người thân quen cho đến những ai lần đầu thăm Việt Nam đều đã dành thời gian tiếp cận với thơ ca, văn học Việt Nam để đưa ra những nhận định, phát biểu về chân dung văn chương và con người Việt Nam với khát vọng mãnh liệt về một nền độc lập, hòa bình và hòa hợp.
Nhà thơ Martha Collins (Mỹ) một người bạn thân thiết của nhiều nhà thơ Việt Nam.
Nhà thơ Martha Collins một người bạn thân thiết đến từ nước Mỹ cho biết, lần đầu tiên tiếp xúc với thơ ca Việt Nam là vào năm 1993. Khi ấy bà đã trào dâng niềm xúc động đặc biệt chưa từng có về đất nước hình chữ S - nơi những cuộc chiến tranh đã đi qua. Như một nhân duyên kể từ sau dịp đó bà Martha và một số thành viên của Trung tâm William Joiner (Mỹ) đã dành tâm huyết và thời gian để đọc và dịch các tác phẩm của Nguyễn Du, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Lựu, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quang Thiều… “Càng đọc nhiều, tôi càng cảm thấy kinh ngạc và yêu mến thơ ca Việt Nam”, bà Martha Collins bày tỏ.
Năm 1994, Martha và những người bạn sưu tầm và cho ra mắt tập thơ: “Thơ rút từ những tài liệu”, tập hợp các bài thơ ghi chép của người lính Việt Nam trong chiến tranh. Tập thơ tạo ấn tượng mạnh với đông đảo độc giả Mỹ. Tiếp đến là những bản dịch thơ đương đại, Martha nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam và hệ lụy xã hội, qua thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Quang Thiều, Ngô Tự Lập. Nhà thơ phân tích: “Chiến tranh trong thơ Ngô Tự Lập là những trải nghiệm và ký ức của một đứa trẻ trước sự tàn phá, đổ nát. Chiến tranh hiện hữu giữa mọi đồ đạc, giữa đời sống của bao người dân lành, nó gợi lên trong chúng tôi lòng trắc ẩn và niềm khao khát được sẻ chia, hàn gắn những vết thương”.
Thơ cho ta những ước mơ

Nhà thơ Fernando Rendon (Colombia) chụp ảnh kỷ niệm.
Từ khi còn là một thiếu niên, nhà thơ Fernando Rendon (Colombia) - Giám đốc Liên hoan thơ quốc tế Medellin, Tổng giám đốc điều phối viên phong trào thơ ca quốc tế - đã biết đến chiến tranh Việt Nam, nhất là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và khát vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam. Ông Fernando cũng được nghe nhiều về thiên tài quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Sự lãnh đạo anh minh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và được đọc thơ của Người, bài thơ “Trời hửng”:
Sự vật vần xoay đà định sẵn
Hết mưa là nắng hửng lên thôi!
Đất trời một thoáng thu màn ướt
Sông núi muôn trùng trải gấm phơi
Trời ấm hoa cười chào gió nhẹ
Cây cao chim hót rộn cành tươi
Người cùng vạn vật đều phơi phới
Hết khổ là vui vốn lẽ đời…
Giống như Việt Nam, đất nước Columbia cũng trải qua những cuộc chiến tranh và mọi người dân đều yêu chuộng hòa bình, yêu thơ ca. Nhà thơ Fernando chia sẻ: “Thơ ca đã giang rộng đôi cánh của mình để bảo vệ người dân qua bão giông. Thơ ca giúp nuôi dưỡng các ký ức và thổi bùng khát vọng tự do muôn đời. Tôi rất ấn tượng với cách nói dân dã của người Việt Nam: Thơ không thể cho người lao động lúa gạo nhưng ít nhất nó cho họ những giấc mơ ”.
Nhà thơ Hữu Thỉnh đón nhận bức thư pháp là quà tặng từ dịch giả Chúc Ngưỡng Tu (Trung Quốc) - ảnh Nguyễn Đình Toán.
Và để trả lời cho câu hỏi: Vì sao thơ chiến tranh của Việt Nam không cũ và luôn mang giá trị trường tồn? Nhà thơ Vũ Duy Thông bày tỏ: “Vì thơ chiến tranh Việt Nam hướng về các giá trị nhân văn phổ quát của nhân loại, về con người, mong cho con người được sống trong yêu thương và hạnh phúc”. Còn dịch giả Chúc Ngưỡng Tu (ĐH Nam Kinh, Trung Quốc), từng dịch hầu hết tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang tiếng Trung thì xúc động phát biểu: “Nhật ký trong tù là tác phẩm bất hủ, truyền đi tuyên ngôn của tự do và thông điệp hòa bình”.