Năm 2026 được xác định là năm bản lề, mở đầu giai đoạn Đà Nẵng khớp nối quy hoạch, tập trung nguồn lực phát triển các khu, cụm công nghiệp theo hướng bền vững, hiệu quả...
Xác định trụ cột chính phát triển kinh tế
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, đưa ra 3 nhiệm vụ đột phá. Đặc biệt trong lĩnh vực phát triển kinh tế, Đà Nẵng sẽ tập trung khai thác tiềm năng, lợi thế gắn với đẩy mạnh tái cấu trúc kinh tế.
Trong đó, triển khai hiệu quả chủ trương cơ chế, chính sách đặc thù, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Đồng thời, triển khai quyết liệt “bộ tứ trụ cột”. Đà Nẵng sẽ tập trung quy hoạch, dành nguồn lực đầu tư theo định hướng không gian phát triển thành 2 vùng đông và tây.
Trọng tâm là thúc đẩy phát triển 6 lĩnh vực mũi nhọn gắn với hình thành 6 động lực tăng trưởng; phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, tạo động lực bứt phá như một số tuyến đường sắt đô thị; công trình kết nối giao thông ngầm qua sân bay quốc tế Đà Nẵng; đầu tư xây dựng Bến cảng Liên Chiểu; nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, Cảng hàng không Chu Lai...
Ngoài ra, thành phố sẽ thu hút dự án, nhà đầu tư PPP vào các hạ tầng trọng yếu, nhà đầu tư chiến lược tại Khu thương mại tự do, Khu kinh tế mở Chu Lai, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng.
Kêu gọi dự án đầu tư có quy mô lớn, nhà đầu tư tiềm lực trên các lĩnh vực công nghệ cao, vi mạch, bán dẫn, công nghệ thông tin, cơ khí, ô-tô, công nghiệp dược liệu và chế biến dược liệu.
Khu kinh tế mở Chu Lai hiện có tổng diện tích tự nhiên lên đến 27.040 ha, trải dài qua các huyện Núi Thành, Thăng Bình và Tam Kỳ. Hiện tại, khu vực này đã hình thành 14 khu công nghiệp, trong đó có 7 khu công nghiệp đang hoạt động với 165 dự án đã đi vào hoạt động, giải quyết việc làm cho khoảng 45.000-50.000 lao động.
Khu công nghiệp Cơ khí ô-tô Chu Lai-Trường Hải thu hút 46 dự án thứ cấp, với tỷ lệ lấp đầy đạt 85%, tạo ra thu nhập ổn định cho hơn 13.000 lao động. Sau sáp nhập, Khu kinh tế mở Chu Lai được xác định là động lực tăng trưởng mới, tạo dư địa và xung lực phát triển cho thành phố.
Thành phố định hướng phát triển Khu kinh tế mở Chu Lai theo mô hình không gian đa chức năng, gồm các khu công nghiệp, khu phi thuế quan, cảng và logistics, du lịch-dịch vụ tập trung, khu đô thị, trung tâm đào tạo, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các khu dân cư nông thôn gắn với du lịch làng nghề.
Tại Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp thành phố, hiện có 8 khu công nghiệp đang hoạt động và 2 khu chức năng khác với tổng diện tích quy hoạch khoảng 1.740,6 ha. Diện tích đất công nghiệp đã cho thuê đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 80%. Diện tích đất chưa có hạ tầng 152,53 ha. Các khu công nghiệp đã thu hút 561 dự án, trong đó có 160 dự án FDI.
Với trụ cột kinh tế được xác lập từ các khu công nghiệp, Đà Nẵng hiện nay đang tổng rà soát để xác định lộ trình phát triển cụm công nghiệp, khu công nghiệp.
Sớm tháo gỡ khó khăn
Theo Sở Công thương thành phố, hiện nay, thành phố có 63 cụm công nghiệp đang hoạt động và triển khai thủ tục đưa vào hoạt động, với tổng diện tích hiện trạng 1.464,71 ha, quy hoạch đến năm 2030 là 1.581,71 ha.
Trong số này, 59 cụm công nghiệp đã có quyết định thành lập, gồm 51 cụm đang hoạt động, 2 cụm đã đầu tư hạ tầng nhưng chưa vận hành và 6 cụm chưa triển khai đầu tư; còn 4 cụm chưa có quyết định thành lập nhưng đã có doanh nghiệp sản xuất.
Các cụm công nghiệp phân bố tại 35/93 xã, phường, trong đó 16 cụm thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn, 29 cụm thuộc địa bàn khó khăn và 18 cụm không thuộc diện ưu đãi đầu tư. Hiện vẫn còn một số cụm công nghiệp chưa thống nhất chủ thể quản lý, nhất là các cụm nằm trên địa bàn giáp ranh.
Cụ thể, có 3 cụm công nghiệp nằm trên địa bàn giáp ranh giữa các xã, phường nhưng chưa có chủ trương thống nhất chủ thể quản lý, gồm: Cụm công nghiệp Hà Lam-Chợ Được (xã Thăng Bình và xã Thăng An), Cụm công nghiệp Đồi 30 (xã Chiên Đàn và xã Phú Ninh), Cụm công nghiệp Trảng Nhật 1 (phường An Thắng và phường Điện Bàn Bắc).
Tại cuộc họp đánh giá tình hình các cụm công nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng, nhiều địa phương kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố sớm chỉ đạo hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, ưu tiên đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các địa bàn khó khăn.
Đồng thời, đề nghị khẩn trương rà soát, xác định rõ chủ thể quản lý, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, hoàn thiện thủ tục đất đai, xử lý các dự án chậm triển khai nhằm bảo đảm các cụm công nghiệp đủ điều kiện hoạt động và nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư.
Ông Vũ Quang Hùng, Trưởng ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp thành phố cho biết, các khu công nghiệp tiếp tục giữ vai trò trụ cột phát triển công nghiệp, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư và giải quyết việc làm.
Các vướng mắc hiện nay tập trung vào ba nhóm chính: hạ tầng các khu công nghiệp đầu tư bằng ngân sách hình thành từ sớm, sau hơn 20 năm khai thác đã xuống cấp, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đại.
Đất đai, nghĩa vụ tài chính và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại một số khu công nghiệp chưa được xử lý dứt điểm. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và tâm lý doanh nghiệp. Nền tảng pháp lý của một số khu, điểm sản xuất chưa hoàn chỉnh theo mô hình khu công nghiệp, dẫn đến khó khăn trong quản lý nhà nước và áp dụng cơ chế đặc thù.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Trần Chí Cường yêu cầu các đơn vị, địa phương cần xác định cụm công nghiệp là hạ tầng kỹ thuật quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Cần phải đẩy nhanh tiến độ để doanh nghiệp có mặt bằng sản xuất, không thể để tình trạng kéo dài gây lãng phí nguồn lực.
Hiện nay tỷ lệ giải phóng mặt bằng mới đạt khoảng 60%. Sở Công thương phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố và các địa phương xây dựng phương án cụ thể để giải quyết 40% diện tích còn lại.
Ông Trần Chí Cường yêu cầu các đơn vị liên quan nghiên cứu, phối hợp đề xuất mô hình quản lý cụm công nghiệp phù hợp sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; xây dựng khung giá thuê đất, phí dịch vụ và các loại lệ phí liên quan bảo đảm tính hợp lý và đúng quy định.
Mục tiêu đặt ra là thu hút đầu tư, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, do đó bên cạnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước, các cơ quan cần lắng nghe, kịp thời giải quyết kiến nghị thực tế của doanh nghiệp.