Soạn lại giáo trình lịch sử Việt Nam

"Khách quan và toàn diện hơn..."

"Khách quan và toàn diện hơn..."

Không chỉ là lịch sử của người Việt!

Công trình này được thực hiện từ ba năm nay bởi nhóm tác giả trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội và PGS. TS Nguyễn Quang Ngọc làm chủ nhiệm. Theo PGS. TS Nguyễn Quang Ngọc (nguyên chủ nhiệm khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện trưởng Viện Việt Nam học), lịch sử Việt Nam phải được nhận thức là lịch sử của các cộng đồng quốc gia, cộng đồng cư dân, cộng đồng tộc người từng sinh sống, từng góp phần vào tiến trình lịch sử dân tộc, vào quá trình xây dựng, bảo vệ đất nước, quá trình sáng tạo và bảo tồn nền văn hóa Việt Nam.

Việc trình bày đơn tuyến trong các bộ sách giáo khoa, giáo trình trước đây là chưa phù hợp với thực tế lịch sử và tạo nên một khoảng trống vắng trong nhận thức về lịch sử miền trung và miền nam từ sau thời tiền sử cho đến khi người Việt di cư vào khẩn hoang vùng đất này, đồng thời cũng gạt bỏ những thành tựu rực rỡ về lịch sử văn hóa Sa Huỳnh - Chămpa, Óc Eo - Phù Nam ra khỏi lịch sử văn hóa Việt Nam. Tất nhiên trong mối quan hệ giữa Đại Việt và Chămpa, Phù Nam - Chân Lạp phải bao gồm cả giao lưu kinh tế văn hóa, quan hệ đồng minh trong chiến đấu chống ngoại xâm chứ không phải chỉ có những cuộc xung đột như sách vở trước đây đã phản ánh.

- Hiện nay, về cơ bản, bộ Lịch sử Việt Nam mới đã hoàn thành, dày khoảng hơn 2.000 trang. Về phân kỳ lịch sử: Tập 1 trình bày từ thời cổ đại đến cuối thế kỷ XIV; Tập 2 từ thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XIX do GS Phan Huy Lê chủ biên. Tập 3 - thời cận đại sẽ được tính từ năm 1858 đến năm 1945 do GS Đinh Xuân Lâm chủ biên. Tập 4 - thời hiện đại bắt đầu từ năm 1945 đến nay (năm 2000) do GS Lê Mậu Hãn chủ biên. "Chúng tôi đã cố gắng cập nhật những thành tựu khoa học mới nhất, kể cả cuộc khai quật Hoàng thành Thăng Long đang xôn xao dư luận..."- phát biểu của PGS-TS Nguyễn Quang Ngọc.

Một đặc điểm khác là các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam sống đan xen, không hình thành những vùng lãnh thổ biệt lập. Hiện tượng cát cứ có xảy ra trong một số trường hợp, nhưng nói chung không nảy sinh thành những xung đột sắc tộc gay gắt. Do đó, lịch sử Việt Nam cũng cần phải phản ánh tính đa tộc người của cộng đồng cư dân Việt Nam, trong đó phải kể đến các thành tựu văn hóa của tộc người thiểu số.

Bên cạnh đó, phần lịch sử cận- hiện đại xưa nay chúng ta chỉ trình bày các giai đoạn phát triển của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ như một bộ phận của lịch sử cách mạng, của lịch sử Đảng Cộng sản thì bộ sử mới sẽ không bỏ qua phần viết về phía đối lập như chính quyền Bảo Đại, Ngô Đình Diệm với quan niệm đó cũng là bộ phận tất yếu của lịch sử dân tộc.

Làm rõ các triều đại

Bên cạnh đó, nhiều vấn đề lịch sử cũng được "cày xới" lại. Lịch sử cổ trung đại gắn liền với những vương triều cụ thể. Một số tác phẩm lịch sử Việt Nam trước đây thường nhấn mạnh đến sự phát triển các hình thái kinh tế xã hội và phân chia các thời kỳ lịch sử theo quá trình hình thành, phát triển, suy thoái của các hình thái kinh tế xã hội và làm mờ, thậm chí không chú ý đến sự tồn tại của các vương triều.

Thí dụ: trình bày lịch sử Việt Nam thế kỷ X - XV trong một phân kỳ lịch sử gọi là thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam và trình bày tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo tuyến cắt dọc của cả thời kỳ. Do đó, người đọc không thể hình dung được sự tồn tại và tiếp nối của từng vương triều.

Vì vậy bộ Lịch sử Việt Nam mới cố gắng kết hợp giữa phân kỳ lịch sử theo hình thái kinh tế xã hội với lịch sử cụ thể của các vương triều như những thực thể lịch sử với vai trò và cống hiến cũng như mặt hạn chế và tiêu cực của từng vương triều.

Chẳng hạn, lâu nay chúng ta vẫn đề cao quá mức những đóng góp của nhà Tây Sơn và hạ thấp vương triều Nguyễn một cách cực đoan. Nhưng trên thực tế, sự thất bại của triều đại Tây Sơn sau khi vua Quang Trung qua đời (1792) phải được nhìn nhận như là sự thất bại của một vương triều phong kiến tiến bộ đang trên đường suy thoái và khủng hoảng.

Không chỉ là lịch sử chống ngoại xâm

Đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt Nam là các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Trên quan điểm tôn trọng tính toàn diện và trung thực của lịch sử, lịch sử chống ngoại xâm cần được trình bày đúng liều lượng và khái quát trong tương quan lực lượng với đối phương. Những cuộc kháng chiến thất bại cũng phải được trình bày trong mức độ cần thiết và đặc biệt cần được phân tích để rút ra những bài học lịch sử.

Bên cạnh lịch sử chống ngoại xâm, các tác giả cũng trình bày lịch sử văn hóa Việt Nam với một trọng lượng thích đáng và toàn diện về văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa dân gian. Trong mỗi giai đoạn lại khắc họa những chân dung văn hóa tiêu biểu và những đặc trưng chủ yếu chứ không gộp lại "một cục" thành các thời kỳ dài hàng mấy trăm năm như các bộ giáo trình, giáo khoa trước đây. Những nghiên cứu về thiết chế chính trị, pháp luật, về chế độ ruộng đất cùng với nông nghiệp, nông thôn, nông dân, về các nghề thủ công truyền thống và thương nghiệp với các thương cảng, đô thị cổ và quan hệ giao thương với nước ngoài cũng được tập thể tác giả cập nhật.

Có thể bạn quan tâm