Khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở lưu vực sông Cầu để phát triển bền vững

Lưu vực sông Cầu có diện tích hơn sáu nghìn km2 với mạng lưới sông, suối tương đối phát triển, tổng chiều dài hơn 1.600 km.

Lưu vực gồm ba vùng sinh thái khác nhau là đồng bằng, trung du, miền núi, có Vườn quốc gia Ba Bể, vườn quốc gia Tam Ðảo, khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ cùng các khu văn hóa, lịch sử, môi trường với giá trị sinh thái cao.

Lưu vực sông Cầu cũng rất giàu tài nguyên thiên nhiên như: rừng, nước, khoáng sản... Chính vì vậy, kinh tế của các vùng thuộc lưu vực sông Cầu như ở Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh tăng trưởng nhanh theo hướng công nghiệp hóa.

Tuy nhiên, hiện nay lưu vực sông Cầu đang phải tiếp nhận nguồn nước thải của sáu tỉnh là Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương và một phần của Hà Nội. Vì vậy, chất lượng nước hệ thống sông Cầu ở hầu hết các địa phương đều không đạt tiêu chuẩn chất lượng TCVN 5942 - 1995 (loại A).

Ðiển hình là phường Tân Long (Thái Nguyên), nước sông Cầu đục, có mầu đen nâu và có mùi, đoạn chảy qua khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên, các thông số SS, BOD5, COD vượt TCVN loại A từ hai đến ba lần.

Tại sông Cà Lồ thuộc lưu vực sông Cầu do chảy qua nhiều khu, cụm công nghiệp và đô thị trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và một phần của thành phố Hà Nội khiến hàm lượng các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và ô nhiễm dầu, mỡ cũng lớn hơn tiêu chuẩn loại A.

Ðáng chú ý, sông Ngũ Huyện Khê là một trong những điển hình ô nhiễm nghiêm trọng của lưu vực sông Cầu do nước thải công nghiệp, làng nghề của các khu vực

này đều thải trực tiếp ra sông, hàm lượng các chất dinh dưỡng  cao hơn tiêu chuẩn loại A hàng chục lần.

Theo các chuyên gia môi trường, qua nghiên cứu tình trạng ô nhiễm lưu vực sông Cầu, thì hầu hết các ngành, nghề sản xuất trong khu vực như nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng, làng nghề... đều có ảnh hưởng xấu, gây ô nhiễm môi trường. Trong đó, nước thải công nghiệp chiếm vị trí hàng đầu trong việc gây ô nhiễm.

Lưu vực sông Cầu có khoảng hơn hai nghìn doanh nghiệp sản xuất công nghiệp với các ngành nghề rất đa dạng gồm luyện kim, chế biến thực phẩm, chế biến lâm sản, vật liệu xây dựng, sản xuất phương tiện vận tải... Nhiều khu công nghiệp và nhà máy lớn tập trung ở Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang.

Trong đó, ngành khai thác mỏ, chế biến khoáng sản chiếm tỷ lệ 55% tổng số nước thải công nghiệp, tiếp đến là kim khí 19%, ngành giấy 7%...

Ða số các mỏ khai thác quặng ở lưu vực sông Cầu đều không có hệ thống xử lý nước thải. Nước thải trong và sau khi khai thác, tuyển quặng được xả thẳng vào nguồn nước mặt.

Một số ngành có lượng nước thải lớn như luyện kim, cán thép, chế tạo thiết bị máy móc có tổng lượng nước thải khoảng 16 nghìn m3/ngày, sản xuất giấy có tổng lượng nước thải khoảng 3.500 m3/ngày, chế biến thực phẩm có tổng lượng nước thải khoảng hai nghìn m3/ngày.

Ngoài ra, lưu vực sông Cầu còn có hơn 200 làng nghề sản xuất giấy, rượu, mạ kim loại, tái chế phế thải, sản xuất đồ gốm... cũng góp phần đáng kể vào việc gây ô nhiễm môi trường.

Cùng với nước thải công nghiệp và làng nghề thì khối lượng nước thải sinh hoạt, y tế và các hoạt động sản xuất nông nghiệp như sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tràn lan, nước thải chăn nuôi... cũng khiến môi trường nước của lưu vực sông Cầu bị ô nhiễm đáng kể.

Lưu vực sông Cầu ngày càng bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân, nguồn nước và hệ sinh thái của lưu vực. Ðặc biệt ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế trong khu vực.

Hiện nay, lưu vực sông Cầu vẫn chưa giải quyết được việc cung cấp nước cho các mục đích khác nhau. Trong khi đó, nhu cầu về nguồn nước ngày càng lớn.

Chỉ riêng nhu cầu nước cho 20 nghìn ha sản xuất nông nghiệp của ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh đã lên tới hơn 400 triệu m3/năm, nước cho sản xuất công nghiệp gang thép Thái Nguyên hơn 20 triệu m3/năm, nước cho sinh hoạt thành phố Thái Nguyên là hơn 30 triệu m3/năm...

Ðáng chú ý, chi phí đầu tư một hệ thống xử lý nước sạch phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình thường cao hơn nhiều so với thu nhập.

Khả năng tiếp cận với nguồn nước sạch của người dân trong lưu vực còn hạn chế, do đó, phần lớn người dân nông thôn khai thác và sử dụng trực tiếp nước sông hoặc các thủy vực chung quanh. Ðây chính là yếu tố làm gia tăng các bệnh về tiêu hóa, bệnh ngoài da và phụ khoa. Trong số những người mắc bệnh liên quan nguồn nước thì trẻ em chiếm tỷ lệ khá cao.

Ðể môi trường nói chung, môi trường nước nói riêng trong lưu vực sông Cầu ngày càng trong sạch, đáp ứng tốt nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cần có những giải pháp vừa tổng thể, đa dạng, linh hoạt lại vừa hữu hiệu khi khai thác, bảo vệ môi trường. Trong đó, lấy phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái môi trường là chính, kết hợp từng bước xử lý, khắc phục điểm nóng về ô nhiễm trên toàn khu vực.

Cần có những điều tra thực trạng ô nhiễm do sản xuất công nghiệp, làng nghề, đời sống... để có sự đánh giá tác động tới môi trường.

Việc xử lý triệt để các nguồn gây ô nhiễm nước phải được coi trọng hàng đầu như đa dạng hóa nguồn lực đầu tư với cơ chế khuyến khích hợp lý trong khắc phục, xử lý bảo vệ, tái tạo và phát triển tài nguyên môi trường lưu vực sông Cầu.

Chủ tịch Ủy ban bảo vệ sông Cầu Phạm Xuân Ðương cho rằng: Sau khi Ðề án tổng thể bảo vệ môi trường sông Cầu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, thì nhiệm vụ trước tiên cần phải xác định được các dự án, đề án cụ thể ở từng địa phương, từng khu vực để nâng cao trình độ nhận thức và trách nhiệm của chính quyền các cấp, trên cơ sở đó, từng địa phương đề xuất những chương trình hành động bảo vệ môi trường cụ thể.

Ðối với các đơn vị, nhà máy, xí nghiệp đang hoạt động ở trên lưu vực, phải tự xử lý các chất thải, nước thải, bảo đảm đủ tiêu chuẩn mới được đổ ra sông và chính quyền các cấp phải có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện đó. Cần xử lý những đoạn sông bị ô nhiễm nặng, tiến hành nạo vét, khơi dòng những đoạn sông quan trọng.

Ngoài ra, các địa phương cần tăng cường hoạt động tuyên truyền, nâng cao sự hiểu biết của người dân về quyền lợi và trách nhiệm liên quan môi trường. Tổ chức thực hiện cơ chế phối hợp hành động của đoàn thể quần chúng, nhân rộng các mô hình tự quản, duy trì phong trào quần chúng thường xuyên bảo vệ môi trường. Nhất là cần khôi phục rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn đã bị suy thoái, tăng cường bồi phụ nguồn nước, xây dựng các công trình giữ nước để chống cạn kiệt; bảo đảm chất lượng, khối lượng nước phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội đồng thời bảo đảm ổn định, thông thoáng dòng chảy tự nhiên, bền vững của các công trình thủy lợi, các hồ chứa trong khu vực.

Cần có sự lồng ghép các chương trình giữa phòng, chống lụt bão, quản lý đê điều với các chương trình dự án của Ủy ban sông Cầu, bảo đảm mục tiêu chung là bảo vệ môi trường.

Các đề án, dự án triển khai trên lưu vực sông Cầu cần có ý kiến của Ủy ban sông Cầu, nhằm xác định rõ trách nhiệm trong bảo vệ, khắc phục triệt để ô nhiễm môi trường nhằm từng bước làm sống lại dòng sông Cầu, bảo tồn và phát triển tài nguyên môi trường tự nhiên, đa dạng sinh học, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

XUÂN KỲ

Có thể bạn quan tâm