Khoáng sản làm VLXD được phép xuất khẩu gồm: khoáng sản từ các mỏ có giấy phép khai thác hoặc giấy phép khai thác tận thu còn hiệu lực do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp; khoáng sản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tịch thu và phát mại có chứng từ hợp lệ mua hoặc đấu giá; cát nhiễm mặn được khai thác tận thu từ nạo vét, khơi thông luồng, lạch..., có dự án được phê duyệt và xác nhận về khối lượng cát xuất khẩu; khoáng sản thuộc danh mục hạn chế xuất khẩu nhưng có nhu cầu xuất khẩu, thì việc cho phép xuất khẩu do Thủ tướng Chính phủ quyết định; trường hợp khoáng sản không thuộc danh mục hạn chế xuất khẩu nhưng tại thời điểm có nhu cầu xuất khẩu làm ảnh hưởng cân đối cung cầu trong nước thì việc tạm ngừng xuất khẩu do Thủ tướng Chính phủ quyết định; khoáng sản tạm nhập, tái xuất hoặc nhập khẩu để chế biến và xuất khẩu hoặc nhập khẩu để gia công, chế biến cho thương nhân nước ngoài.
Thông tư có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký và thay thế các nội dung liên quan xuất khẩu khoáng sản làm VLXD của Thông tư số 02/2006/TT-BCN ngày 14-4-2006 của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) về Hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản.