Hồn quê còn mãi với Anh Thơ

Trong lễ viếng chị Anh Thơ hôm 18 tháng 3 năm 2005 đau buồn ấy, tôi để ý vòng hoa lớn của độc giả Tô Quỳnh Chiêu với dòng chữ "Bức tranh quê sống mãi". Trên đường tiễn chị về cõi thiêng, mấy bạn thơ chúng tôi ngậm ngùi kể lại những kỷ niệm về chị và cùng cho rằng, Anh Thơ là một trong số không nhiều nhà thơ tiền chiến vẽ lại cảnh quê, hồn quê Việt Nam đặc sắc nhất.

Bức tranh quê là bộ tranh liên hoàn, bộ phim tư liệu quý được vẽ bằng thứ ngôn ngữ thơ thuần phác nhất về nông thôn miền bắc trước cách mạng. Nguyễn Bính cũng vẽ, và vẽ rất giỏi, nhưng là với cách nhìn của một người đã một lần ra tỉnh. Ðoàn Văn Cừ cũng vẽ rất sống, rất thật, nhưng còn ham về kể. Anh Thơ vẽ bằng hồn. Bởi chị "thích nhất được thỏa thuê trong không khí đầy hương hoa cau, hoa ngâu, hoa sói, được lũ chim, gà quấn quýt bên nhau, được xem chúng ăn "hăm hở". Sự "thỏa thuê" đó là sống, là hóa thân, là nhập hồn. Và đó là chân thật,  là yêu nước, chứ còn gì? Giữa bao nhiêu vây bủa, cấm đoán, nhà thơ chọn được cách tạc tình yêu, ủy thác tâm sự một cách công khai, sự rực rỡ mà bọn đế quốc không làm gì được. Một người như thế là tự mình manh mối một hướng đi, chọn sẵn một lối thoát cho đời và cho thơ. Và ngày ấy đã đến vào tháng 3 năm 1945, nữ sĩ Anh Thơ, người phụ nữ duy nhất được tặng giải thưởng Tự lực văn đoàn, chính thức tham gia hoạt động cách mạng.

Trong lời vĩnh biệt cuối cùng tại đài hóa thân Hoàn vũ, nhà văn Xuân Cang kể lại câu chuyện trong ngày chuyển bệnh của chị Anh Thơ cùng với mấy chị nhà văn, nhà báo đến thăm, thấy chị hỏi:

- Chị Anh Thơ ơi, chị thấy giá trị thơ ca Việt Nam thế kỷ 20 là ở điểm nào.

Chị Anh Thơ nói đứt quãng:

- Ðế quốc, phong kiến.

Mấy chị suy ra, và hỏi lại:

- Có phải chị muốn nói chống đế quốc, chống phong kiến phải không?

Chị Anh Thơ khẽ gật đầu và  nở đôi mày ra vẻ đồng ý. Các chị hỏi tiếp:

- Thế thơ thế kỷ 21 thì sao?

 Im lặng hồi lâu, chị Anh Thơ dồn hết sức trả lời:

- Ðổi mới... nước.

Ðổi mới thì rõ rồi. Còn nước. Nước? Mấy chị tưởng chị khát nước liền mang ly nước đến. Chị nhăn trán lắc đầu. Ra thế, không phải là uống nước, mà là đất nước. Một chị ghé sát vai chị Anh Thơ, hỏi:

- Giữ nước, giữ lấy nước, phải không chị?

Chị Anh Thơ gật đầu, ra vẻ mãn ý. Từ đó đến khi  trút hơi thở cuối cùng, chị không nói thêm lời nào nữa. Câu chuyện ấy và những lời trăng trối ấy là những điều rút ruột của một nhà  thơ. Nó như là một mã số để đọc tiểu sử một con người và sự nghiệp của một nhà thơ.

Thường ngày, chị Anh Thơ vẫn gọi tôi là cậu. Gọi cậu và xưng mình.  Tôi rất cảm động về cách xưng hô ấy, vì được chị coi như một đứa em trai. Sau hai khóa, tham gia Ban chấp hành, tới Ðại hội nhà văn lần thứ ba, chị được mời tham gia Ðoàn cố vấn. Từ đó, tôi được gần chị nhiều hơn. Tôi nhận thấy tình yêu văn chương choán hết thời gian, sức lực của chị. Trong đời tư cũng như trong nghiệp văn chương, chị có nhiều thiệt thòi. Cũng có chỗ chị chưa được hiểu hết và chưa được đánh giá công bằng. Chính chị biết rõ điều đó, nhưng rồi lại tìm cách vượt qua nhanh, như đã từng vượt qua bao nhiêu trở ngại trong đời. Hơn 60 năm hoạt động và sáng tạo, có biết bao nhiêu chuyện vui buồn. Nhưng cho đến những năm cuối đời, chị vẫn giữ nguyên cái vẻ hồn nhiên và ngơ ngác như thời chị viết Bức tranh quê. Tôi hiểu, chính vì có sự thảnh thơi như thế mà chị viết được nhiều và bền lâu đến thế. Ai đó nói, nhà văn cần dẹp bỏ những toan tính nhỏ hẹp để dành chỗ cho những tình yêu lớn - Chị Anh Thơ là một người như thế. Có lần chị tâm sự "Chị phải cảm ơn anh Tố Hữu. Cuối năm 1947, chị ốm nặng phải nằm dưỡng bệnh tại nhà bác Kim Lân ở ấp Cầu Ðen, huyện Yên Thế, Bắc Giang cả tháng trời. Sau trận ốm, chị muốn chuyển hẳn về Hội Văn nghệ để có thời gian  cho sáng tác. Anh Tố Hữu khuyên chị cứ công tác bên Hội Phụ nữ thêm một thời gian, ở đó có điều kiện để đi, để hiểu nhiều về kháng chiến, rồi hãy trở về Hội Văn nghệ, còn chưa muộn. Lúc đầu thì chị tuy vui vẻ bề ngoài nhưng trong bụng chưa thông lắm. Bây giờ nghĩ lại, thấy anh Tố Hữu có tầm nhìn xa, anh ấy giúp chị. Nếu không thì biết lấy gì để viết. Ham sống, ham đi và ham viết là một tính cách của Anh Thơ thống nhất từ khi mới nhập môn văn học cho đến những năm cuối đời. Khi về hưu, đời sống khó khăn, chị vẫn tìm mọi cách để đi thực tế, có những lúc phải bán cả những đồ đạc trong nhà. Ðó không chỉ là tình yêu thơ mà trước hết là tình yêu cuộc sống, yêu con người.

Có một hiện tượng lạ trong thơ ca chống Pháp là bước vào kháng chiến, xuất hiện những nhà thơ mặc áo lính, đem đến một sinh khí mới, một giọng điệu thật mới, lập công ngay từ buổi đầu xuất hiện, thì ngược lại, những cỗ trọng pháo của thơ mới phải loay hoay dò tìm một thời gian dài. Chị Anh Thơ thì không thế. Chị nhập cuộc khá nhanh và nhuyễn khá sớm với hiện thực chiến tranh. Có gì khác giữa những câu thơ trong Bức tranh quê:

Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,
Ðàn sáo đen xà xuống mổ vu vơ,
Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió.
Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.

Với những câu thơ trong bài Tiếng chim tu hú chị viết năm 1954:

Bỗng tiếng chim tu hú,
Ðưa từ vườn vải xa
Quả bắt đầu chín lự
Ngọt như nỗi nhớ nhà.

Hai khổ thơ, cách nhau 15 năm, vắt qua hai khoảng trời từ nô lệ đến tự do, vẫn nguyên một điệu cảm dân dã, sáng tươi, pha trộn tài tình giữa thực và ảo. Có khác chăng là khác ở cái hiện thực được tái hiện trong thơ và nhất là cái cung bậc tình cảm của tác giả. Anh Thơ vẫn là Anh Thơ của ngày hôm qua, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn, đã có một cái gì đó thật sự đổi khác. Các tài năng thật sự đều tìm cách làm mới mình như vậy. Tôi chưa từng gặp một câu thơ nào trong thơ mới ngao ngán như hai câu thơ sau đây của Anh Thơ:

Ðã hết cả những hội hè đám rước,
Vào việc làm họ chán cả chào nhau

Ấy thế mà, trong kể chuyện Vũ Lăng, hồn thơ chị linh hoạt và thắm thiết hẳn lên:

Một mình bữa sớm cấy trưa
Ðêm ru con đói lại vừa kéo bông
Xóm làng đi hết đàn ông
Ðàn bà heo hút sống trong thẳm rừng.

Không né tránh nỗi buồn. Mà việc gì phải né tránh kia chứ, vì nỗi buồn kia là có thật. Chỉ có điều buồn thì có buồn, những rã rời và khô héo thì không. Bởi vì đây là một cuộc sống khác, ở vào một thời đại hoàn toàn khác. Bằng thực chứng thơ ca, Anh Thơ thanh minh cho thơ ca kháng chiến, đó là thơ một trăm phần trăm vì trước hết nó là tâm hồn một trăm phần trăm.

Sinh thời, Anh Thơ làm báo, viết kịch, viết tiểu thuyết, hồi ký, và phê bình văn học. Nhưng tình yêu lớn nhất và sự nghiệp lớn nhất của chị là thơ. Chị là một phụ nữ có thiên bẩm về thơ và là nhà thơ nữ xuất sắc nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại.

Chị Anh Thơ ơi! Ở một nơi nào đó rất xa, mà cũng rất gần, chị hoàn toàn có quyền được yên nghỉ, bởi không có lời nào nói về chị đầy đủ hơn và chính xác bằng lời của những người yêu thơ chị: "Bức tranh quê sống mãi".

Chiều xuân

Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,
Ðò biếng lười nằm mặc nước sông trôi
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời

Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ
Ðàn sáo đen xà xuống mổ vu vơ;
Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió,
Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.

Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng
Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,
Làm giật mình một cô nàng yếm thắm
Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.

ANH THƠ
(Trong tập Bức tranh quê)

Có thể bạn quan tâm