Năm 968, sau khi dẹp yên được nạn cát cứ, thống nhất được quốc gia, Đinh Bộ Lĩnh xưng Đại Thắng Minh Hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt (Nước Việt to lớn), dựng kinh đô ở Hoa Lư, sáng lập vương triều Đinh.
Việc Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt đã thể hiện rõ sự tự tin rằng sức mạnh dân tộc Việt đã trở nên lớn lao. Nước Việt dưới thời Đinh Tiên Hoàng đã “to lớn”, không còn là một quận huyện như An Nam, Giao Châu… như trước đó. Đây còn là lòng tự tin của sức mạnh văn hóa “Đại Cồ Việt” được khẳng định trước sự ngạo mạn văn hóa vẫn cận kề, luôn (chỉ) coi mình là trung tâm vũ trụ (trung), là đẹp (hạ), là lớn (đại)...
Trước Đinh Tiên Hoàng đã có Lý Bí đã xưng đế, lập nên nước Vạn Xuân. Mai Thúc Loan cũng xưng đế và dân gian vẫn gọi nôm na là Mai Hắc Đế vì nước da đen của ông. Nhưng đến nhà Đinh thì việc xưng đế cuả Đinh Tiên Hoàng đã tiếp nối “quốc thống” trị nước độc lập tự chủ từ thời các vua Hùng.
Hai năm sau khi đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, Đinh Tiên Hoàng không dùng niên hiệu của các Hoàng đế Trung Hoa nữa mà đặt niên hiệu của triều Đinh là Thái Bình. Việc tự đặt niên hiệu đã một lần nữa khẳng định sự tự tin vào sức mạnh dân tộc của vua Đinh. Sự tự tin đó cũng là cơ sở để năm Thái Bình thứ ba (972), Đinh Tiên Hoàng chủ động cử con trai Đinh Liễn làm sứ giả sang Tống. Dù khi đó nhà Tống có quân đội tương đối hùng mạnh và vẫn nuôi ý đồ bành trướng xuống phương nam, nhưng chính sách ngoại giao khôn khéo, mềm dẻo cùng với những chính sách nội trị phù hợp để củng cố sức mạnh quốc gia của Đinh Tiên Hoàng đã khiến nhà Tống tạm thời chưa động (được) binh đánh xuống phương nam.
Khi ở ngôi, Đinh Tiên Hoàng đã hoàn thành một nhiệm vụ lịch sử lớn là xây dựng nền móng đầu tiên cho chính sách quân sự, quốc phòng của quốc gia thống nhất. Thành tựu này góp phần làm cho thế nước vững vàng và tạo nên sức mạnh dân tộc bảo vệ vững chắc nền độc lập tự chủ. Một mặt thường xuyên theo dõi mọi động tĩnh từ bên ngoài, mặt khác Đinh Tiên Hoàng đặc biệt chú ý xây dựng lực lượng quân sự hùng hậu, sẵn sàng giữ vững nền độc lập vừa giành lại được.
Dân Đại Cổ Việt lúc đó chưa đông, nước Đại Cổ Việt lúc đó chưa mạnh nhưng nhà Đinh đã có “chính sách quốc phòng” - như nay ta vẫn gọi - kết hợp chặt chẽ giữa "việc binh" và "việc nông". Đó là nền nền quốc phòng dựa vào nhân dân. Quân đội chủ yếu là "ngạch binh biên sổ", "khi có việc thì gọi ra, xong việc lại trở về làm ruộng". Quân đội được tổ chức thành Thập đạo quân - mỗi đạo hành chính là một đạo quân sự. Đó là hệ thống biên chế tổ chức quân sự chính quy đầu tiên trong kỷ nguyên độc lập tự chủ. Cũng do kế thừa (từ nhà Đinh) và củng cố được thập đạo quân này mà Thập đạo tướng quân Lê Hoàn đã lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống xâm lược thành công năm 981.
Để phát triển kinh tế, bồi dưỡng sức dân, vua Đinh quan tâm đến việc khẩn hoang, lập làng, mở rộng diện tích cày cấy ở vùng đồng bằng ven biển. Việc này đến nay được biết qua nhiều thần tích. Nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa đã phát triển. Nhà vua có các xưởng thợ chuyên đúc tiền và đã cho đúc tiền “Thái Bình thông bảo”. Văn hóa được mở mang và tầng lớp trí thức đã phát triển trong xã hội. Nghệ thuật trang trí kiến trúc đã có nhiều nét trau chuốt cho đến hôm nay vẫn để lại nhiều dấu tích, di vật trong lòng đất cố đô Hoa Lư.
Vào thế kỷ X, yêu cầu lịch sử giành và giữ quyền tự chủ là vấn đề hàng đầu. Tư tưởng phòng vệ gần như quán xuyến, chi phối các hoạt động khác để đối phó với mưu toan tái lập ách đô hộ của kẻ thù mạnh. Việc chọn đất định đô của Đinh Tiên Hoàng không ngoài sự chi phối của tư tưởng phòng vệ, phải đáp ứng những yêu cầu của việc phòng vệ trước những cuộc tấn công có thể đến bất cứ lúc nào. Ông đã bỏ qua Đại La, Cổ Loa, là những trung tâm chính trị kinh tế lớn thời đó, mà chọn Hoa Lư để lập kinh đô. Vùng đất Hoa Lư phong cảnh hữu tình như một vịnh Hạ Long trên cạn nhưng cũng là một quân thành lợi hại, tiện phòng thủ nhiều bề trước các cuộc tấn công, xâm lược đã là lựa chọn số một trong mắt một thủ lĩnh quân sự cho yêu cầu giữ và củng cố nền độc lập non trẻ lúc đó.
Tuy chỉ tồn tại trong 12 năm, nhưng những đóng góp của vương triều Đinh với dân tộc đã được lịch sử khẳng định và ghi nhận. “Tiên Hoàng dấy lên từ một người áo vải, một lần nổi lên dẹp được 12 sứ quân. Rồi dựng nước, dựng kinh đô, đổi niên hiệu, chính ngôi vua. Võ công vang khắp, văn hóa đều đổi mới...” (Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên. Nxb Khoa học xã hội, H. 1997, tr. 155.).