Công khai thủ tục hành chính thuế

Hồ sơ, thủ tục hoàn thuế Giá trị gia tăng

Căn cứ vào Mục II, Phần D,Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12-12-2003 của Bộ Tài chính quy định hồ sơ hoàn thuế GTGT đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế như sau:

1- Trường hợp cơ sở kinh doanh trong ba tháng liên tục trở lên có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết; cơ sở kinh doanh đầu tư mới đã đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, cơ sở có dự án đầu tư của cơ sở sản xuất đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, có số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho dự án đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên được xét hoàn thuế theo quý.

Hồ sơ gồm:

- Công văn đề nghị hoàn thuế GTGT nêu rõ lý do hoàn thuế, số thuế đề nghị hoàn, thời gian hoàn (theo mẫu số 10/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 120/2003/TT-BTC).

- Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đầu ra, số thuế đầu vào được khấu trừ, số thuế đã nộp (nếu có), số thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra đề nghị hoàn lại.

- Bảng kê hàng hóa, dịch vu mua vào, bán ra trong kỳ liên quan việc xác định thuế GTGT đầu vào, đầu ra (mẫu số 02/GTGT, 03/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 120/2003/TT-BTC). Riêng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào có sử dụng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì sử dụng Bảng kê mẫu số 05/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 120/2003/TT-BTC).

Trường hợp việc kê khai thuế hằng tháng đã đầy đủ và chính xác, phù hợp Bảng kê khai tổng hợp, cơ sở không phải nộp Bảng kê hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra các tháng để hoàn thuế. Trường hợp có điều chỉnh thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, thuế GTGT đầu ra của các tháng trong thời gian hoàn thuế thì cơ sở phải kê khai số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, thuế GTGT đầu ra phát sinh từng tháng trong thời gian hoàn thuế, số thuế điều chỉnh phải giải trình rõ lý do.

2- Trường hợp cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng.

Đối với trường hợp ủy thác xuất khẩu, gia công chuyển tiếp xuất khẩu, đối tượng hoàn thuế là cơ sở có hàng hóa ủy thác xuất khẩu, gia công chuyển tiếp xuất khẩu. Đối với trường hợp gia công ủy thác thì đối tượng được hoàn thuế là cơ sở trực tiếp gia công hàng xuất khẩu.

Hồ sơ gồm:

- Công văn đề nghị hoàn thuế GTGT nêu rõ lý do hoàn thuế, số thuế đề nghị hoàn, thời gian hoàn (theo mẫu số 10/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 120/2003/TT-BTC).

- Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đầu ra, số thuế đầu vào được khấu trừ, số thuế đã nộp (nếu có), số thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra đề nghị hoàn lại.

- Bảng kê hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra trong kỳ liên quan việc xác định thuế GTGT đầu vào, đầu ra (mẫu số 02/GTGT, 03/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 120/2003/TT-BTC). Riêng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào có sử dụng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì sử dụng Bảng kê mẫu số 05/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 120/2003/TT-BTC.

- Biên bản thanh lý Hợp đồng ủy thác xuất khẩu hoặc ủy thác gia công hàng xuất khẩu (trường hợp đã kết thúc hợp đồng) hoặc Biên bản đối chiếu công nợ định kỳ giữa bên ủy thác xuất khẩu và bên nhận ủy thác xuất khẩu (đối với trường hợp ủy thác xuất khẩu hoặc ủy thác gia công xuất khẩu).

- Bảng kê các hồ sơ có chữ ký và đóng dấu của cơ sở. Bảng kê ghi rõ:

+ Số, ngày tờ khai xuất khẩu của hàng hóa xuất khẩu (trường hợp ủy thác xuất khẩu phải ghi số, ngày tờ khai xuất khẩu của cơ sở nhận ủy thác).

+ Số, ngày hợp đồng xuất khẩu hoặc số, ngày hợp đồng ủy thác xuất khẩu, ủy thác gia công đối với trường hợp ủy thác xuất khẩu, ủy thác gia công xuất khẩu.

+ Hình thức thanh toán, số, ngày, số tiền của chứng từ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.

2.1- Trường hợp hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu thanh toán bằng hàng:

- Công văn đề nghị hoàn thuế GTGT nêu rõ lý do hoàn thuế, số thuế đề nghị hoàn, thời gian hoàn (theo mẫu số 10/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 120/2003/TT-BTC).

- Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đầu ra, số thuế đầu vào được khấu trừ, số thuế đã nộp (nếu có), số thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra đề nghị hoàn lại.

- Bảng kê hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra trong kỳ liên quan việc xác định thuế GTGT đầu vào, đầu ra (mẫu số 02/GTGT, 03/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 120/2003/TT-BTC). Riêng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào có sử dụng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì sử dụng Bảng kê mẫu số 05/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 120/2003/TT-BTC.

- Bảng kê các hồ sơ có chữ ký và đóng dấu của cơ sở:

+ Số, ngày hợp đồng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ký với phía nước ngoài.

+ Số, ngày hợp đồng mua hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ của phía nước ngoài (gọi tắt là hợp đồng nhập khẩu) thanh toán bù trừ với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.

+ Số, ngày Tờ khai xuất khẩu của hàng hóa xuất khẩu.

+ Số, ngày Tờ khai nhập khẩu của hàng hóa nhập khẩu mua của phía nước ngoài thanh toán bù trừ với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.

+ Số, ngày văn bản xác nhận với phía nước ngoài về số tiền thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ mua của phía nước ngoài.

Trường hợp sau khi thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu có chênh lệch, số tiền chênh lệch phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng, cơ sở kinh doanh phải kê trong Bảng kê kèm theo về số, ngày, chứng từ thanh toán qua ngân hàng, số tiền thanh toán.

Các hợp đồng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, hợp đồng nhập khẩu mua hàng hóa, dịch vụ với phía nước ngoài phải theo đúng quy định của Luật thương mại ghi rõ: số lượng, chủng loại, giá trị hàng hóa, dịch vụ, giá bán (mua), giá gia công (đối với trường hợp gia công hàng hóa), hình thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập  khẩu mua của phía nước ngoài.

Trường hợp cơ sở kinh doanh sản xuất, gia công hàng xuất khẩu thanh toán theo phương thức bù trừ với hàng nhập theo hợp đồng dài hạn với phía nước ngoài, thì cơ sở kinh doanh phải đăng ký với cơ quan thuế về hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu, kế hoạch thanh toán với phía ngoài, định kỳ cơ sở phải có văn bản xác nhận về số lượng, giá trị hàng hóa đã thanh toán bù trừ với phía nước ngoài.

Quy trình thu, nộp, quản lý và sử dụng phí

1. Đối với các loại phí thuộc NSNN:

Để thực hiện tốt công tác quản lý thu phí thuộc NSNN, cần tuần tự triển khai các bước công việc cụ thể như sau:

1.1.Thực hiện đăng ký thu phí:

Trong thời hạn chậm nhất là 10 ngày trước khi bắt đầu thu phí, tổ chức, cá nhân thu phí phải đăng ký với cơ quan thuế địa phương về loại phí, địa điểm thu, chứng từ thu và việc tổ chức thu phí, lệ phí (mẫu số 1 ban hành kèm theo Thông tư 63/2002/TT-BTC), cụ thể như sau:

- Tổ chức thu phí trực thuộc trung ương, tỉnh hoặc cấp tương đương quản lý, đăng ký với cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

- Tổ chức thu phí trực thuộc quận, huyện, thị xã, thị trấn, xã, phường hoặc cấp tương đương quản lý và cá nhân thu phí, lệ phí, đăng ký với chi cục thuế quận, huyện.

Trường hợp thay đổi, kết thúc hoặc đình chỉ thu phí thì phải thông báo với cơ quan thuế chậm nhất là 5 ngày trước khi thay đổi, kết thúc hoặc đình chỉ thu phí.

1.2. Tiến hành thu phí:

Tổ chức, cá nhân thu phí, lệ phí niêm yết hoặc thông báo công khai tại địa điểm thu phí, lệ phí về mức thu, chứng từ thu, văn bản quy định thu phí, lệ phí. Khi thu phải lập chứng từ thu giao cho đối tượng nộp phí, thu theo đúng mức phí quy định, mở sổ sách kế toán theo dõi, phản ánh việc thu, nộp và quản lý, sử dụng số tiền phí đã thu theo chế độ kế toán hiện hành của Nhà nước đối với từng loại phí.

1.3. Thực hiện kê khai phí:

Hàng tháng, từ ngày 1 đến ngày 5 của tháng tiếp theo, tổ chức, cá nhân thu phí thực hiện kê khai số tiền phí thu được của tháng trước và nộp tờ khai cho cơ quan thuế nơi đăng ký thu phí để theo dõi, quản lý. Trường hợp trong tháng không phát sinh số thu về phí vẫn phải kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan thuế.

Tổ chức, cá nhân thu phí phải kê khai đầy đủ, đúng mẫu tờ khai theo quy định (mẫu số 2 ban hành kèm theo Thông tư 63/2002/TT-BTC) và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai.

1.4. Kiểm tra tờ khai thu, nộp phí, ra thông báo và nộp tiền vào NSNN:

- Sau khi nhận được tờ khai thu, nộp phí của tổ chức, cá nhân thu phí, cơ quan thuế tiến hành kiểm tra trên tờ khai, đối chiếu xác nhận số tiền phí thừa, thiếu của tháng trước, số phí đã thu được của tháng này, số phí được trích để lại theo chế độ và số phí phải nộp NSNN, nếu không có sai sót thì phát hành thông báo để tổ chức, cá nhân làm nhiệm vụ thu phí tiến hành nộp phí vào NSNN.

- Căn cứ vào thông báo của cơ quan thuế, tổ chức, cá nhân thu phí làm thủ tục nộp NSNN. Thời hạn nộp tiền phí vào NSNN của tháng chậm nhất không quá ngày 15 của tháng tiếp theo. Trong trường hợp đã đến thời hạn nộp phí, lệ phí vào NSNN mà chưa nhận được thông báo của cơ quan thuế thì tổ chức, cá nhân thu phí, lệ phí chủ động nộp phí, lệ phí vào NSNN theo tờ khai; trường hợp nộp thừa thì được trừ vào số phí, lệ phí phải nộp của kỳ tiếp theo, nếu kỳ trước nộp thiếu thì phải nộp đủ số kỳ trước còn thiếu.

1.5. Hạch toán, quyết toán tiền phí:

- Tổ chức, cá nhân thu phí có trách nhiệm mở sổ sách kế toán để theo dõi, phản ánh việc thu, nộp và quản lý, sử dụng số tiền phí theo chế độ kế toán hiện hành của Nhà nước đối với từng loại phí.

- Định kỳ báo cáo quyết toán việc thu, nộp, sử dụng số tiền phí đã thu chi tiết cho từng loại phí theo quy định của Nhà nước.

- Thực hiện chế độ công khai tài chính theo quy định của pháp luật.

- Trường hợp thay đổi, kết thúc hoặc đình chỉ thu phí thì phải quyết toán thu, nộp, sử dụng tiền phí trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có quyết định thay đổi, kết thúc hoặc đình chỉ thu phí.

- Thời gian quyết toán phí cùng với thời gian quyết toán NSNN, tổ chức, cá nhân thu phí phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu quyết toán phí. Nếu phát hiện có sự trốn, lậu tiền phí sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

- Cơ quan thuế thực hiện quyết toán số thu theo biên lai, tổng số tiền phí thu được, số phí được để lại theo chế độ, số phải nộp NSNN. Cơ quan tài chính, cơ quan thuế quyết toán số chi từ nguồn thu phí được để lại đơn vị theo quy định cụ thể của Bộ Tài chính đối với từng loại phí.

2. Đối với các loại phí không thuộc NSNN:

- Phí thu được từ các dịch vụ không do Nhà nước đầu tư, hoặc do Nhà nước đầu tư nhưng đã chuyển giao cho tổ chức, cá nhân thực hiện theo nguyên tắc hạch toán, tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả thu phí là khoản thu không thuộc NSNN (gọi tắt là phí không thuộc NSNN).

- Tiền thu phí không thuộc NSNN được xác định là doanh thu của tổ chức, cá nhân thu phí. Tổ chức, cá nhân thu phí có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật đối với số phí thu được và có quyền quản lý, sử dụng số tiền thu phí sau khi đã nộp thuế theo quy định của pháp luật.

- Hằng năm, tổ chức, cá nhân thu phí phải thực hiện quyết toán thuế đối với số tiền phí thu được cùng với kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh khác (nếu có) với cơ quan thuế theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành.

Như vậy, các tổ chức, cá nhân thu phí không thuộc NSNN phải tiến hành đăng ký thuế để được cấp mã số thuế, khi thu phải lập hóa đơn giao cho đối tượng nộp phí, phải thu theo đúng mức phí do cấp có thẩm quyền quy định và thực hiện nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành. (Việc quản lý thu, nộp phí được thực hiện theo quy trình quản lý thu thuế số 1345 hoặc 1368 do Tổng cục Thuế ban hành)

Lưu ý: Trường hợp một số khoản phí, lệ phí được Chính phủ, Bộ Tài chính quy định riêng, khác so với các nguyên tắc trên đây về thời hạn kê khai, nộp, quyết toán thì tổ chức, cá nhân thu phí, lệ phí được thực hiện kê khai, nộp, quyết toán phí, lệ phí đó theo các văn bản riêng của Chính phủ, Bộ Tài chính.

          (Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm