ĐỌC SÁCH

Hồ Chí Minh - Thơ - Toàn tập

Việc sưu tập toàn bộ thơ của Hồ Chủ tịch, từ "Ngục trung nhật ký" đến thơ chữ Hán, thơ tiếng Việt làm sau đó... đã được thực hiện nghiêm túc.

Việc tiến thêm một bước trong việc dịch "nghĩa đen" để hiểu cho đúng hình tượng thơ Hồ Chí Minh là một việc quan trọng. Đại thi hào Đức Goethe có nói đại ý rằng: tất nhiên phải cúi đầu trước tiết tấu và âm vận là những đặc tính nguyên thủy của thơ ca, nhưng trong buổi đầu nghiên cứu, rất cần bản dịch nghĩa chuyển dịch trung thực hình tượng thơ.

Thật vậy, người đọc Việt Nam có ưu thế rất lớn trong việc đọc các câu thơ chữ Hán cổ, vì âm vận của nó rất gần với tiếng Việt là thứ tiếng được bảo lưu phần lớn âm Đường-Tống thế kỷ 9-10. Sau đó đọc bản dịch nghĩa, dù là thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du hay Hồ Chí Minh... thì tiếp nhận được rất sâu cái thâm thúy, quyến rũ, cái đẹp của câu thơ, bài thơ. Thêm được bản dịch thơ hay nữa thì tuyệt!

Lâu nay, các bản dịch thơ Hồ Chí Minh rất coi trọng phần dịch nghĩa. Các nhà Hán học lão thành như Nam Trân, Nguyễn Sĩ Lâm... đã đi trước và có những đóng góp lớn vào việc này.

Nhưng văn chương, chữ nghĩa là việc vô cùng, nên lần này bản dịch nghĩa cũng đã có một số bước tiến trong việc cố gắng hiểu thêm một số câu thơ tưởng đã hiểu của Hồ Chí Minh. Chẳng hạn: chữ trình trong thâm trình (bài Điệt Lạc, trong bút tích nguyên tác viết rất rõ và có nghĩa là ruộng sâu. Thế mà trước đọc là khanh (cái hố). Việc tuy nhỏ, nhưng hiểu chính xác vẫn hơn. Chữ thí trong bài Mây thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động, trước cho là hiểu rõ và cho là không có nghĩa, ngờ là chữ thí là thử viết nhầm. Nhưng chữ thí ấy, cũng đọc là tỉ (thí dụ, tỉ dụ). Ở đây có thể hiểu thí là như, cũng như. Kim thí hành hành lũ dục điên nghĩa là: "Nay dường như mới đi vài bước đã nhiều lần muốn ngã".

Chữ  lưỡng nhị trong bài 114 là "lưỡng nhân nhị thứ" (hai người hai lần), chỉ dịch hai người thì thiếu "hai lần". Chữ  y hi trong câu thơ "cổ tùng cổ miếu lưỡng y hi" (phỏng Khúc phụ) cũng đáng phân vân. Từ Hải giảng: còn phảng phất. Các từ  điển khác: lờ mờ, mang máng, mường tượng, giống như.  Thơ xưa dùng y hi rất nhiều. "Đồng lai ngoạn nguyệt nhân hà tại? Mong cảnh y hi tự khứ niên" (Người cùng đến ngắm trăng với ta giờ ở đâu?  Phong cảnh còn phảng phất như năm xưa", hay: "Nam quốc giang sơn cựu đế kỳ - Tống đài Lương quán tự y hi" (Lưu Vũ Tích) (Núi sông đây là cựu đế đô miền nam; lâu đài nhà Tống và đình tạ nhà Lương còn phảng phất như xưa". Như vậy thì câu thơ "Cổ tùng cổ miếu lưỡng y hi" cũng phải hiểu theo nghĩa ấy. Và ở đây, về dịch thơ, phải chọn tới ba bản dịch khác nhau, may ra làm rõ được ý nguyên tác.

Đến như việc chú thích thì các bản trước đã chú thích rất kỹ và nhiều chú thích có giá trị làm rõ nguyên tác. Lần này, cụ Trần Đức Thọ,  một nhà Hán học và cách mạng lão thành có một số hiểu biết rất quý về quá trình cách mạng Việt Nam, nên cũng có một số chú thích lý thú.

Bài số 35 (Vấn thoại) (chất vấn và đối thoại) là một bài thơ sâu sắc. Nhưng theo tôi, vị tất đã có thể giữ một quan điểm "chiết trung" về công lý và chân lý và nhận thức trong bài thơ như có người đã hiểu, nếu như ta đọc đoạn chú thích sau đây của cụ Trần Đắc Thọ: "Bài Vấn thoại được Bác Hồ viết sau lần Bác bị đại tá tình báo tên là Vương Chi Ngũ chất vấn.

Viên đại tá này nói nhiều câu khó nghe, nên Bác từ chối không trả lời. Bác không nhận mình có tội, nên không có gì phải cung khai. Bác coi đây chỉ là cuộc chất vấn và đối thoại giữa hai người" (Hồ Chí Minh - Thơ - Toàn tập, bản in lần 2. tr 37). Trong bài "Những điều chưa biết về Ngục trung nhật ký..." in ở Phụ lục tập sách (từ tr 475  đến 482), cụ Trần Đắc Thọ dẫn lời cụ Hồ Đắc Thành, gần 90 tuổi, từng làm Biện sự xứ ở Long Châu (Trung Quốc), đại biểu Quốc hội khóa I, một người đã gặp Bác Hồ sau khi Bác ra tù năm 1943 và  được Bác cho xem Ngục trung nhật ký.

Cụ Hồ Đắc Thành kể: "Khi nói chuyện về bài Vấn thoại, bài thứ 10 trong tập Nhật ký (một bài mà tôi rất thắc mắc cái đầu  đề), Bác Hồ đã kể bài này được làm sau khi bị một đặc vụ Tưởng là Vương Chi Ngũ chất vấn: "Anh sang Trung Quốc liên lạc với Hán gian hay với Nhật Bản?".

Bác đáp "Tôi là người bị bắt, song tôi có nhân cách của tôi; anh hỏi thế tôi không trả lời". Chúng bàn với nhau định mang Bác ra tra tấn. Có tên đã nêu ý kiến: "Tra tấn cũng không khai thác được gì đâu, chi bằng giải lên cấp trên lĩnh thưởng".

Nghe cụ Thành kể đến đây (lời cụ Trần Đắc Thọ) tôi mới rõ lý do Bác Hồ viết đầu đề bài thơ là Vấn thoại (hỏi và nói chuyện) mà không phải là "Vấn cung" vì Bác không chịu nhận mình là kẻ có tội, nên không có gì để cung khai: Bác chỉ nhận mình là người bị bắt vô cớ (Sách đã dẫn, tr. 478). Một chi tiết nữa cũng thú vị: Vương Chi Ngũ có sang Việt Nam công tác trong Bộ Tư lệnh giải giới quân đội Nhật. Chi Ngũ có đến yết kiến Bác Hồ. Bác có tiếp và giao cho ủy viên ngoại giao của Ủy ban Hành chính Bắc Bộ Hồ Đắc Thành chiêu đãi. Tr 478).

Cụ Trần Đắc Thọ còn nghiên cứu chính bản và  á bản của Ngục trung nhật ký, đối chiếu với các bút tích khác của Bác được sưu tập một cách công phu. Cụ cũng đã trình bày quá trình công bố, dịch, những người tham gia lúc đầu... tập thơ vô giá này; phỏng vấn một số nhân chứng - người chỉ đạo công việc còn sống lúc đó (như Tố Hữu) và ghi âm, ghi chép lại... Đó là những tư liệu quý báu cho việc làm sáng tỏ thêm giá trị tập sách.

Đến như việc dịch thơ Bác là cả một nghệ thuật, một khoa học đã đành, lại còn là một sự tâm đắc, cảm thông nữa. Lermontov, đại thi hào Nga, có đòi hỏi người dịch văn chương phải biến mình thành tấm kính trong, trong đến mức dường như không thấy kính để phản ánh cho trung thành nguyên tác. Nhưng đối với việc dịch thơ, thì không hẳn thế. Ta từng biết  các bản dịch thơ Chinh phụ ngâm, Tỳ bà hành, Trường hận ca... và một số bài thơ Đường đã được dịch hay đến thế nào.

Dịch  thơ Hồ Chí Minh không dễ một chút nào. Có vẻ rất giản dị, nhưng chuyển cho đạt cái giản dị ấy ra tiếng Việt với tất cả các sắc thái ngữ nghĩa, giọng điệu, tu từ, phong cách... (nhất là khi Chủ tịch Hồ Chí Minh hài hước, châm biếm) là không dễ. Nam Trân là một thi sĩ nổi tiếng với Huế, Đẹp và Thơ trước cách mạng. Bản thân ông là một người đỗ tú tài Tây học và là một nhà Hán học uyên bác, một thư pháp gia.

Bản dịch của Nam Trân là "quán quân". Quách Tấn, bạn của Nam Trân, Chế Lan Viên, cũng là nhà Hán học và nhà làm thơ Đường luật lỗi lạc với "Mùa cổ điển". Ông dịch thơ Hồ Chí Minh (Ngục trung nhật ký và một bài thơ chữ Hán) xuất sắc và độc đáo. Đọc bản dịch Nam Trân rồi, đọc thêm Quách Tấn, sẽ rất thú vị. Ở đây không có điều kiện để dẫn giải, bình luận nhiều: chỉ xin nêu một vài  lệ chứng.

Bài Vãng Nam Ninh, Quách Tấn dịch ra lục bát (thường lục bát ông giản dị, gần tâm thức người Việt và cũng rất sát nguyên tác):

Dây xiềng thay thế dây thừng
Leng keng tiếng ngọc rung từng bước đi
Tuy gián điệp bị hiềm nghi
Uy phong trông có khác gì công khanh

 Cả từ ngữ, cả vần điệu đều đắt, và bài dịch là thêm một sự diễn đạt trong tiếng Việt, cái thần, cái hồn của nguyên tác chữ Hán: "Thiết thằng ngạnh thế ma thằng nhuyễn - Bộ bộ đinh đương hoàn bội thanh - Tuy thị hiềm nghi gián điệp phạm - Nghi dung khước tượng cựu công khanh".

Bài Thụy bất trước câu: "Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh", Xuân Thủy dịch: "Sao vàng năm cánh quyện hồn ta", Nam Trân dịch: "Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh", đến Quách Tấn: "Sao vàng năm cánh quẩn quanh mộng hồn", đều đắt.

Bản dịch thơ lần này, ngoài Nam Trân, Quách Tấn là "chủ lực", còn có Tố Hữu, Trần Đức Thọ, Văn Trực - Văn Phụng, Bảo Định Giang, Hoàng Trung Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Đỗ Văn Hỷ - Phan Văn Các, Nguyễn Sĩ Lâm, Hoàng Đình, Khương Hữu Dụng, Nguyễn Mỹ Tài, Hải Như, Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân... tham gia. Mỗi người ít hoặc nhiều bài đã làm cho bản dịch thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh thêm phong phú, thêm nhiều dáng vẻ và giọng điệu, để những bạn đọc đòi hỏi cao ở thơ, ở dịch thơ... có điều kiện tự mình lựa chọn, đánh giá, thưởng thức...

Và chúng tôi nghĩ rằng việc nghiên cứu, dịch nghĩa, chú thích, dịch thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ chưa kết thúc, sẽ còn tiếp tục được hoàn thiện.

Có thể bạn quan tâm