Hát ca trù vùng quê Cổ Đạm

Thanh niên xã Cổ Đạm học ca trù.
Thanh niên xã Cổ Đạm học ca trù.


Theo chỉ dẫn của người dân địa phương, tôi tìm đến Câu lạc bộ ca trù xã Cổ Ðạm, một căn nhà vách gỗ giản dị nằm khuất nẻo trong làng. Gọi là câu lạc bộ nhưng đây là nhà của bà Phan Thị Nga, một trong số hiếm hoi những nghệ nhân ca trù còn lại ở Cổ Ðạm. Gần 80 tuổi nhưng bà còn minh mẫn lắm, những nét của một thời xuân sắc vẫn đọng lại nơi khóe mắt, nét cười của một đào hát tài danh thuở nào.

Ở Cổ Ðạm, hai họ Phan, Nguyễn là hai dòng họ lớn nhất và cũng là hai họ có đóng góp nhiều cho sự phát triển của ca trù. Bà Nga thong thả kể: Cổ Ðạm xưa từng có lệ "Con gái lớn lên, trước khi lấy chồng phải đi hát ca trù vài năm". Năm 10 tuổi, cô gái Nga được cha là ông Phan Hưng, một chủ gánh hát truyền dạy các ngón nghề đàn hát. Cứ học ròng rã cho mãi đến năm 18 tuổi, chị Nga mới được đứng trong gánh hát và bắt đầu nghiệp cầm ca. Hồi ấy, gánh hát được mời đi diễn nhiều nơi, thu nhập cũng khá, một buổi có thể được đến vài chục quan tiền (bà Nga nhớ lại thời ấy một quan tiền mua được hai yến gạo).

Cổ Ðạm có phải là nơi ca trù được hình thành, phát triển hay không, điều này còn cần thêm những nghiên cứu, nhưng có điều chắc chắn là ca trù làng này đã có nhiều đóng góp và giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển của ca trù nước ta.

Về nguồn gốc ca trù Cổ Ðạm, theo truyền thuyết thì làng Cổ Ðạm có người tên là Nguyễn Sinh được tiên ông trao cho khúc ngô đồng và bản vẽ để làm ra cây đàn đáy. Bằng tiếng đàn, chàng đã giúp nàng Bạch Hoa ở Thường Xuân, Thanh Hóa khỏi câm và nên duyên vợ chồng, trở về Cổ Ðạm, chồng dạy đàn, vợ dạy múa hát, thu hút khá đông người theo học. Khi hai vợ chồng mất được nhân dân trong vùng tôn làm tổ nghề ca trù Cổ Ðạm và lập đền thờ, lấy ngày 11 tháng chạp âm lịch làm ngày giỗ tổ nghề. Hằng năm, đến ngày ấy các giáo phường như Ðức Thọ, Hương Sơn, Kỳ Anh, Hưng Nguyên... tấp nập kéo nhau về trung tâm Cổ Ðạm, nơi được coi là "giáo phường ty đệ nhất". Ngày trước, có lần Cổ Ðạm đã cử một đoàn nghệ nhân ra Thăng Long và các tỉnh Hà Ðông, Sơn Tây (nay là tỉnh Hà Tây) giúp những địa phương này phục hồi nghệ thuật diễn xướng ca trù. Với danh tiếng về ca trù, Cổ Ðạm được nhiều bậc học giả tài hoa, đam mê ca hát thường xuyên lui tới hát xướng, trong đó có Nguyễn Công Trứ, người có công khai phá, mang đến sự canh tân cho ca trù.

Ấy là thời thịnh của ca trù Cổ Ðạm. Những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ 20, chiến tranh, loạn lạc đã khiến ca trù ở Cổ Ðạm dần vắng bóng và đi vào giai đoạn thoái trào, mai một. Hàng chục gia đình nghệ nhân phải bỏ nghiệp. Bà Nga vẫn nhớ kỷ niệm buổi diễn cuối cùng của cuộc đời phiêu bạt ca hát, đó là vào năm 1943 khi một gia đình giàu có ở Ðô Lương mời gánh hát đến diễn trong một tháng. Người trong gánh hát ai cũng ngậm ngùi, lời ca, tiếng đàn lần ấy sao mà nồng nàn, quyến luyến hơn lệ thường... Những câu chuyện đầy ắp hoài niệm khiến bà Nga bỗng nghẹn lời, lặng đi một hồi rồi gõ nhịp, hát lại một khúc ca của buổi ly biệt ấy:

"Giai nhân nan tái đắc
Chót yêu hoa nên gian díu với cành
Mái tây hiên nguyệt rải chênh chênh
Rầu rĩ những xuân về oanh nhỏ...".

Giọng ca của bà khắc khoải nỗi buồn xa xăm. Nghe bà hát, đứa cháu ngoại năm tuổi khe khẽ hát theo. Ðứa trẻ hát một cách hồn nhiên. Mai sau nó có còn thích và hát được say sưa như thế này? Ðây cũng từng là nỗi lo của Cổ Ðạm bởi đã có thời, ca trù như một điều xa lạ với thanh niên. Bọn trẻ bảo vì ca từ nhiều âm Hán Việt, nhiều làn điệu, khó nhớ khó thuộc và chúng nhanh chóng bị cuốn theo những bài hát nhạc trẻ đang thịnh hành. Sau "cú sốc" hồi những năm 40, ca trù Cổ Ðạm dường như không thể gượng dậy nổi. Hàng chục năm sau ngày ấy, tiếng đàn, hát hầu như im tiếng, có chăng chỉ còn những buổi ca hát giao lưu bó hẹp trong phạm vi những bậc cao niên.

Nhiều năm trời, Cổ Ðạm man mác một nỗi buồn khi các nghệ nhân dần khuất bóng mà không có người tiếp nối truyền thống. Số nghệ nhân thưa dần, chỉ còn đếm được trên đầu ngón tay: Bà Nga, bà Mơn, bà Hằng... Ca trù Cổ Ðạm đứng trước nguy cơ mai một khi mà những bài hát, những làn điệu mang những nét đặc trưng của Cổ Ðạm dần theo các nghệ nhân về nơi xa mãi.

Khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua nổi, nhưng ca trù Cổ Ðạm đã không "chết". Những năm gần đây, đã có tín hiệu khả quan với ca trù. Tỉnh Hà Tĩnh cũng như huyện Nghi Xuân đang tiến hành nhiều công việc nhằm phục hồi, lưu giữ vốn văn hóa phi vật thể quý báu, trong đó có cuộc hội thảo khá quy mô về ca trù Cổ Ðạm với sự tham dự của nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia trong ngành văn hóa của trung ương và địa phương.

Hội thảo đề cập nhiều vấn đề chung quanh ca trù Cổ Ðạm, từ nguồn gốc, lịch sử hình thành, phát triển, những đóng góp, vị trí, vai trò của ca trù Cổ Ðạm đối với ca trù nước ta, đồng thời đưa ra những biện pháp để lưu giữ, phục hồi ca trù. Lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh cũng nhấn mạnh về việc sẽ có sự đầu tư xứng đáng với loại hình nghệ thuật đặc sắc này của quê hương.

Huyện Nghi Xuân đã tổ chức tìm đến các nghệ nhân và những người hiểu  biết về ca trù ở Cổ Ðạm, sau đó tiến hành ghi âm và sao chép lại bằng văn bản những bài hát, những mẩu chuyện thăng trầm của ca trù. Hiện nay ở Cổ Ðạm, những nghệ nhân cao tuổi như bà Nga còn nhớ được khoảng 40-50 bài với chừng 30 làn điệu, trong đó có những bài khó hát và nhiều làn điệu ít phổ biến. Có thể coi đây là những "trang từ điển" có giá trị không chỉ của Cổ Ðạm mà còn của nghệ thuật ca trù nước ta. Ðiều đáng trân trọng là hiện nay, các cụ rất tích cực tham gia  việc truyền dạy cho lớp trẻ vốn nghệ thuật quý báu của mình.

Ngoài ra, Trung tâm văn hóa huyện đã nỗ lực đưa ca trù vào trường học cho nên không chỉ Cổ Ðạm mà nhiều học sinh ở xã khác cũng biết hát ca trù. Huyện còn tổ chức nhiều liên hoan ca trù ba thế hệ và hình thành được một phong trào ca trù sôi nổi, rộng khắp và mang đến những hiệu quả tích cực trong công tác lưu giữ, phát triển nghệ thuật truyền thống quý báu của dân tộc.

Năm 2003, một số thanh niên ở Cổ Ðạm đã được tham gia khóa đào tạo ca trù ở Nhạc viện Hà Nội. Các em cho tôi biết những kiến thức mà các em được tiếp thụ qua lớp học rất quý báu.

Nguyễn Loan kể: Trước khi tham gia lớp học này, em và các bạn tuy cũng hát được ca trù nhưng thật sự không mấy hiểu biết về ca trù, cũng chỉ biết được ít bài hát. Qua những buổi học ở Hà Nội, chúng em được các thầy giáo, cô giáo bổ sung cho những kiến thức cơ bản rất cần thiết, ngoài ra được học thêm nhiều làn điệu, bài hát mới. Nếu như ở quê chỉ hát "chay" không có nhạc đệm thì trong những buổi thực hành ở lớp, chúng em được tập với đủ bộ đàn, trống nên đã tiến bộ rất nhanh. Nếu so với trước kia thì hiện nay, ở quê em ngày càng có nhiều bạn trẻ thích và biết hát ca trù. Với những kiến thức đã được học, chúng em sẽ cố gắng góp một phần công sức nhỏ bé của mình để nghệ thuật ca trù quê hương được gìn giữ, phát triển.

Hy vọng rằng tới đây, ca trù Cổ Ðạm sẽ còn tiếp tục nhận được sự giúp đỡ, không chỉ ở Hà Tĩnh mà còn của các cá nhân, các cơ quan, ban, ngành có liên quan.

Có thể bạn quan tâm