Hàng rào pháp lý để ngăn chặn tác hại từ thuốc lá

Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đang trong lộ trình sửa đổi, bổ sung nhằm lập hàng rào pháp lý đủ mạnh để bảo vệ các thế hệ tương lai trước những nguy cơ ngày càng lớn từ thuốc lá và sản phẩm chứa nicotine.

Mít-tinh hưởng ứng Ngày thế giới không thuốc lá (31/5) tại Hải Phòng.
Mít-tinh hưởng ứng Ngày thế giới không thuốc lá (31/5) tại Hải Phòng.

Qua 13 năm thi hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá cho thấy, đến nay tỷ lệ sử dụng thuốc lá điếu thông thường trong nam giới trưởng thành giảm; tỷ lệ phơi nhiễm với khói thuốc thụ động cũng giảm đáng kể cả ở các hộ gia đình, nơi công cộng và nơi làm việc. Tuy nhiên, những thành tựu này có nguy cơ bị phá bỏ bởi việc gia tăng tỷ lệ sử dụng thuốc lá mới (thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng…), nhất là trong giới trẻ.

Thuốc lá điện tử sử dụng nhiều hương liệu, hóa chất. Người sử dụng hoàn toàn có thể tự ý tăng tỷ lệ nicotine quá mức hoặc thêm ma túy và các chất gây nghiện khác vào để sử dụng mà khó bị phát hiện. Nhiều địa phương đã ghi nhận những ca ngộ độc do sử dụng thuốc lá điện tử, hầu hết ở lứa tuổi thanh thiếu niên.

Bà Nguyễn Việt Hà, Viện Chiến lược và Chính sách y tế (Bộ Y tế) cảnh báo: Ngoài thuốc lá điếu truyền thống, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, thời gian gần đây xuất hiện thêm sản phẩm chứa nicotine mới đó là túi ngậm nicotine. Túi ngậm là sản phẩm chứa chất dạng bột bao gồm nicotine tự nhiên hoặc tổng hợp, các chất tạo hương và một số thành phần khác. Sản phẩm này gây nghiện nicotine, gây tổn thương niêm mạc miệng và có tác động bất lợi lên tim mạch, tăng nhịp tim cấp tính. Túi ngậm được thiết kế hấp dẫn, với nhiều hương vị ngọt, bạc hà, “ice” làm tăng sức hút; quảng cáo “không thuốc lá/ít hại” gây hiểu lầm về an toàn… Sản phẩm nhắm đến giới trẻ, nhất là thế hệ Gen Z.

Theo bà Hà, nếu chỉ cấm kinh doanh nhưng vẫn cho phép sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, thì chưa triệt để. Mặt khác, phân tích gộp khảo sát thanh thiếu niên tại 75 quốc gia cho thấy, phương án chỉ cấm kinh doanh, không cấm sử dụng chỉ giúp giảm khoảng 20% nguy cơ sử dụng sản phẩm thuốc lá mới ở nhóm 13-15 tuổi; chi phí khám, chữa bệnh tiết kiệm thấp hơn 5,5 lần so với phương án cấm toàn diện. Từ các phân tích nêu trên, bà Hà cho rằng cần cấm toàn diện các sản phẩm thuốc lá mới có thể giảm nguồn cung nicotine, hạn chế người trẻ bắt đầu sử dụng, đồng thời giảm gánh nặng bệnh tật và chi phí y tế.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội đồng Y khoa quốc gia, việc sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá không đơn thuần là hoàn thiện một đạo luật chuyên ngành, mà là xác lập một hàng rào pháp lý đủ mạnh để bảo vệ người dân, nhất là trẻ em, thanh thiếu niên và các thế hệ tương lai, trước những nguy cơ ngày càng đa dạng từ thuốc lá và các sản phẩm chứa nicotine.

Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy tập trung vào khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh; kiểm soát hiệu quả các yếu tố nguy cơ và giảm tiêu thụ những sản phẩm có hại cho sức khỏe, trong đó có thuốc lá. Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 160/NQCP về thông qua chính sách của dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Hai chính sách lớn được thông qua: Thứ nhất, cấm sản xuất, kinh doanh, tàng trữ, quá cảnh, vận chuyển, quảng cáo, khuyến mại, tài trợ, chứa chấp và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các sản phẩm thuốc lá mới khác; thứ hai, cấm cơ sở bán buôn, bán lẻ trưng bày thuốc lá dưới mọi hình thức.

“Chúng ta không thể chỉ chờ đến khi hậu quả sức khỏe đã xảy ra mới can thiệp. Điều cần thiết hơn là nhận diện sớm nguy cơ, kiểm soát từ đầu vào, không để những sản phẩm mới, phương thức tiếp thị mới và hình thức kinh doanh mới làm phát sinh khoảng trống pháp lý, nhất là trong việc lôi kéo giới trẻ tiếp cận và lệ thuộc vào nicotine” - Thứ trưởng Trần Văn Thuấn chia sẻ.

Tiến sĩ Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), thành viên tổ soạn thảo dự án Luật cho biết: Dự thảo luật phải đạt các mục tiêu là thể chế hóa đầy đủ, chính xác hai chính sách đã được Chính phủ thông qua; quy định phải đủ rõ, đủ chặt chẽ, không để phát sinh cách hiểu khác nhau trong nhận diện sản phẩm, phạm vi điều chỉnh và trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Có thể bạn quan tâm