Dự buổi làm việc có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo Chính phủ, các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương.
Sau khi nghe báo cáo và các ý kiến thảo luận tại cuộc làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh phải đổi mới nhận thức về nguồn lao động; chuyển hóa hiệu quả nguồn lực con người, biến lợi thế dân số thành lợi thế phát triển trong giai đoạn mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, nguồn lao động đông, giá rẻ là lợi thế của đất nước nhưng không còn là lợi thế dài hạn. Điểm nghẽn hiện nay là thiếu lao động phù hợp với yêu cầu phát triển. Vì vậy, đánh giá nguồn lao động phải chuyển từ coi trọng số lượng sang coi trọng chất lượng, hiệu quả sử dụng và khả năng đóng góp vào năng suất lao động.
Thực tế cho thấy, hiện rất thiếu kỹ thuật viên, công nhân lành nghề, nhân lực thực hành, nhân lực công nghệ, nhân lực quản trị trung gian. Lao động phi chính thức còn lớn, thất nghiệp thanh niên còn cao, cơ cấu đào tạo và việc làm còn lệch. Kỷ luật, tác phong công nghiệp, ngoại ngữ, kỹ năng số, kỹ năng xanh là những yếu tố mà lao động Việt Nam còn yếu.
Định hướng giải pháp tạo việc làm bền vững, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng, đô thị phải trở thành không gian tạo việc làm có năng suất, giá trị cao của nền kinh tế vì đây là nơi tập trung công nghiệp, dịch vụ, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh và các mô hình kinh doanh hiện đại.
Mục tiêu không chỉ là tạo thêm việc làm mà là tạo việc làm tốt hơn, việc làm chính thức và có cơ hội phát triển nghề nghiệp. Cần gắn việc làm ở đô thị với chất lượng sống và cân đối cung-cầu lao động; chủ động chuẩn bị nhân lực cho khu công nghiệp, trung tâm kinh tế, dự án lớn, công trình trọng điểm...
[Ảnh] Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì làm việc với ngành nội vụ về chất lượng nguồn lao động Việt Nam
Nông thôn không thể chỉ là nơi cung cấp lao động giá rẻ mà phải trở thành không gian phát triển, khởi nghiệp, tạo việc làm và làm giàu chính đáng. Mục tiêu là nâng thu nhập của người dân nông thôn; thúc đẩy chuyển dịch lao động từ nông nghiệp năng suất thấp sang nông nghiệp giá trị cao, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ hiện đại và các ngành kinh tế mới ngay tại địa phương.
Nhấn mạnh vấn đề tạo việc làm bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, đây không chỉ là chính sách lao động, mà còn là chính sách dân tộc, chính sách giảm nghèo, chính sách phát triển con người và củng cố niềm tin của nhân dân.
Giáo dục nghề nghiệp và đào tạo kỹ năng phải gắn với sinh kế thực tế của từng vùng, từng dân tộc, từng cộng đồng; tập trung vào nông nghiệp đặc sản, kinh tế rừng, dược liệu, chăn nuôi, thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng, dịch vụ biên mậu… Phát triển việc làm phải gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường, giữ rừng, giữ đất, giữ nguồn nước, giữ biên cương.
Về lâu dài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phải chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang lợi thế nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng thị trường lao động hiện đại, minh bạch, linh hoạt, hội nhập. Vì vậy cần đổi mới đào tạo nguồn nhân lực, chuyển từ đáp ứng nhu cầu trước mắt sang chuẩn bị năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia.
Trọng tâm là thay đổi tư duy từ “bằng cấp” sang “nghề nghiệp”, từ đào tạo theo khả năng sẵn có sang đào tạo theo đơn đặt hàng, theo chuẩn kỹ năng và theo kết quả đầu ra. Đây không phải việc riêng của ngành giáo dục, mà là nhiệm vụ chung của Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp, địa phương và người lao động.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo, đổi mới mạnh việc phân luồng, quan tâm giáo dục nghề nghiệp, đại học ứng dụng, cao đẳng thực hành, trường nghề chất lượng cao, học nghề kép và học tập suốt đời; nâng vị thế người thợ giỏi, kỹ thuật viên giỏi, lao động vận hành giỏi, làm cho học nghề trở thành con đường phát triển có danh dự, thu nhập và cơ hội thăng tiến. Đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, ngành, địa phương và thị trường. Lấy chuẩn kỹ năng và kết quả đầu ra làm thước đo. Cần xây dựng chuẩn kỹ năng quốc gia, công nhận chứng chỉ kỹ năng nghề, phát triển hồ sơ kỹ năng của người lao động để mỗi người có thể cập nhật, chuyển đổi kỹ năng trong suốt đời làm việc.
Phát triển mạnh đào tạo lại, đào tạo nâng cao, học tập suốt đời và cơ chế liên kết Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp. Có danh mục nghề trọng điểm cần đào tạo, đào tạo lại theo vùng, ngành, trình độ, trong đó có công nghệ cao, công nghiệp xanh, dịch vụ hiện đại và nghề phù hợp với nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bên cạnh tạo việc làm trong nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước định hướng, cần nhìn rộng hơn các kênh tạo việc làm, nâng kỹ năng và bổ sung nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế. Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải là kênh tạo việc làm, nâng thu nhập, rèn luyện kỹ năng, ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp và tiếp cận công nghệ, quản trị hiện đại.
Lao động về nước phải được kết nối với doanh nghiệp, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, chương trình khởi nghiệp, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa; kỹ năng, vốn liếng, ngoại ngữ, tác phong tích lũy ở nước ngoài phải được công nhận, sử dụng, lan tỏa, không để lãng phí. Có cơ chế thu hút, trọng dụng chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia nước ngoài, lao động kỹ thuật cao, nhà quản lý, giảng viên, huấn luyện viên nghề, chuyên gia vận hành dự án công nghệ cao. Nguyên tắc là thu hút để học, thuê để chuyển giao, dùng để đào tạo lao động nhằm nâng cấp vị trí của lao động Việt Nam trong chuỗi giá trị.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo rà soát thực trạng chất lượng nguồn lao động, xây dựng bản đồ thiếu hụt lao động và kỹ năng theo ngành, vùng, địa phương, trong đó có đô thị, nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Triển khai chương trình tạo việc làm bền vững cho thanh niên, lao động nông thôn, lao động đô thị phi chính thức, lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số, lao động bị tác động bởi chuyển đổi số…; nâng cao hiệu quả đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Tiến hành giám sát hằng năm về chất lượng nguồn lao động, việc làm bền vững, đào tạo, thu nhập, bảo hiểm xã hội.
Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, liên thông dữ liệu việc làm, bảo hiểm, đào tạo, doanh nghiệp, dân cư; phát triển hệ thống dịch vụ việc làm công hiện đại, chuyên nghiệp; hình thành hệ thống phân tích, dự báo nhu cầu nhân lực và kỹ năng nghề quốc gia theo ngành, địa bàn.