Hai tập thể và hai nữ cá nhân được nhận Giải thưởng Kovalevskaia 2005

Đó là các tổ chức và cá nhân sau.

CÔNG TY CỔ PHẦN TRAPHACO:
Nâng cao chất lượng sản phẩm từ NCKH

Sau khi thành lập doanh nghiệp hoạt động độc lập năm 1993, quy mô của công ty ngày càng phát triển lớn mạnh không ngừng. Để đạt được kết quả trên, tập thể cán bộ khoa học nữ của công ty đã có những đóng góp không nhỏ với định hướng phát triển là "Công nghệ mới và bản sắc cổ truyền".

Các đề tài "Xây dựng quy trình sản xuất dược liệu sạch và chế biến sạch để bào chế một số chế phẩm chất lượng cao" do tập thể cán bộ nữ công ty thực hiện đã mở ra một hướng mới trong sản xuất, chế biến, bảo quản, sử dựng dược liệu sạch, an toàn, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, con người.

Hay đề tài "Nghiên cứu trồng cây chè dây an toàn làm nguyên liệu phục vụ sản xuất thuốc Ampelop và các chế phẩm phòng điều trị bệnh viêm loét dạ dày - hành tá tràng" đang được triển khai tại Lào Cai cho kết quả tốt.

PHÒNG POLYME DƯỢC PHẨM - VIỆN HÓA HỌC (VIỆN KH-CN VIỆT NAM):
Các kết quả nghiên cứu là Di sản văn hóa

Từ năm 1997 đến nay, thuốc kem POKYSAN đã trở nên quá quen thuộc đối với các bệnh viện, đặc biệt là những bệnh nhân bỏng. Nhưng chắc ít ai biết đến, thuốc kem này được tạo ra từ kết quả nghiên cứu chế tạo vật liệu chitosan từ vỏ tôm phế thải dùng trong y tế của tập thể cán bộ khoa học nữ Phòng Polyme dược phẩm. Thuốc có tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm, không gây tác dụng phụ, có khả năng làm liền các vết thương vết bỏng. Bên cạnh thuốc kem Pokysan, tập thể nữ phòng polyme còn nghiên cứu ra thuốc kem Polysamin giúp chống sẹo lồi, kích thích lên da non; màng băng polyme sinh học pochisan để che phủ vết thương, điều trị lành vết bỏng, vết thương,... Đặc biệt, một công trình tiêu biểu mới của Phòng là nghiên cứu bột PDP từ vỏ thủy hải sản dùng làm phụ gia thực phẩm an toàn, thay thế được hàn the độc hại đang bị cấm dùng hiện nay. Các sản phẩm từ nghiên cứu của các chị đã được tôn vinh là Di sản văn hóa và được dùng vào các hoạt động xã hội để cứu trợ người nghèo, vùng khó khăn, nạn nhân nhiễm chất độc da cam...

PGS, TS NHÀ GIÁO ƯU TÚ TRẦN THỊ LUYẾN - PHÓ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐH THỦY SẢN:
Nhà khoa học của nghề cá

Sinh năm 1950, mặc dù hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhưng Pgs. Trần Thị Luyến vẫn phấn đấu vươn lên để cống hiến cho khoa học. Các đề tài của chị đã tập trung giải quyết nhiều vấn để cấp bách trong chế biến thủy sản hiện nay nhằm nâng cao giá trị tài nguyên biển, mang lại hiệu quả cao cho lĩnh vực kinh tế biển như: nghiên cứu quy luật biến đổi axit amin, đạm và nâng cao hiệu suất thu đạm trong sản xuất nước mắm.

Đây là công trình đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam đưa ra quy luật toán học về biến đổi axit amin và đạm trong sản xuất nước mắm, áp dụng thực tế để tính lượng đạm nước mắm bất kỳ thời điểm nào trong quá trình sản xuất mà không phải qua phương pháp xác định hóa học như trước đây. Ngoài ra, các đề tài "nâng cao giá trị và sử dụng hiệu quả các sản phẩm từ rong nâu", chế biến surimi từ tôm, ghẹ; nghiên cứu đặc tính và chế tạo màng mỏng chitozan để làm vật liệu bao gói thực phẩm... Với những thành tích đã đạt được, Pgs. Trần Thị Luyến đã được đón nhận Huân chương Lao động hạng 3, bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và nhiều Huy chương khác.

PGS.TS NGUYỄN THỊ THU HÀ - CHỦ NHIỆM KHOA HUYẾT HỌC, BỆNH VIỆN QUÂN ĐỘI 108:
Chuyên gia đầu ngành huyết học

Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội (1971), TS Nguyễn Thị Thu Hà được phân công vào làm việc trong ngành quân y. Trong suốt quá trình làm việc, dù ở cương vị công tác nào, chị cũng luôn say mê và nỗ lực tham gia NCKH và đã có kết quả cao được ứng dụng trong ngành y học.

Đến nay, chị đã có 49 bài báo khoa học, nhiều đề tài NCKH có giá trị như nghiên cứu về ghép tủy xương, ghép tế bào gốc máu để điều trị một số bệnh ác tính; bảo đảm truyền, cung cấp và chế phẩm máu an toàn;...

Đặc biệt, từ tháng 9-2004 đến nay chị và đồng nghiệp đã áp dụng ghép tế bào máu ngoại vi tự thân cho hai bệnh nhân thành công mà không cần sự trợ giúp của nước ngoài.

Gs,Ts Ann Kobitz (Mỹ) đã từng sang Liên Xô (cũ) học tập và viết luận án tiến sĩ về nhà nữ toán học Nga Kovalevskaia (nhà nữ khoa học vĩ đại nhất trước thế kỷ 20). Luận án của bà đã được đánh giá cao và in thành sách. Bà quyết định dùng số tiền nhuận bút của cuốn sách này và vận động thêm sự ủng hộ của một số nhà khoa học ở Mỹ để lập ra Quỹ Sophia Kovalevskaia. Mục đích của Quỹ là động viên, khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của phụ nữ ở những nước đang phát triển dưới hình thức trao giải thưởng cho các nhà khoa học nữ xuất sắc thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên.

Từ năm 1985, bà cùng chồng là Gs.Ts. Neal Koblitz đã chọn các nhà khoa học nữ Việt Nam về lĩnh vực khoa học tự nhiên làm đối tượng để xét và trao Giải thưởng Kovalevskaia.

Ngay từ khi ra đời, Giải thưởng đã được chị em hưởng ứng, coi đây là nguồn động viên, cổ vũ thêm tự tin, hăng hái đi vào NCKH. 20 năm qua, Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia của Việt Nam đã chọn và trao giải cho 28 nhà khoa học nữ và 12 tập thể khoa học nữ xuất sắc của Việt Nam. Kết quả NCKH của các chị là những công trình lý thuyết, sản phẩm mới của công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm, vaccine phòng bệnh, vật liệu hóa màu, sơn chống thấm,...

Kết quả nghiên cứu còn là những sản phẩm thực phẩm đạt chất lượng cao, dễ hấp thụ cho trẻ em và người cao tuổi, là những giống rau, lúa, tằm mới ra đời, góp phần không nhỏ trong việc tăng sản lượng và chất lượng xuất khẩu nông sản.

Bên cạnh hoạt động trao giải chính thức hàng năm, từ năm 1993, cứ hai năm một lần, Ủy ban Giải thưởng lại tổ chức một cuộc gặp mặt các nữ sinh viên xuất sắc các ngành khoa học tự nhiên trên phạm vi toàn quốc. Đây là cơ hội để các em tìm hiểu về Giải thưởng, trao đổi ý kiến, kinh nghiệm trong NCKH với những nhà khoa học nữ. Những buổi gặp gỡ như thế này đã khuyến khích được ngày càng nhiều nữ học sinh, sinh viên tham gia học tập và NCKH.

 

Có thể bạn quan tâm