Giải quyết thiếu hụt nhân lực
Con đường hơn 200 km từ thành phố Ðiện Biên Phủ lên huyện cực tây Tổ quốc Mường Nhé (Ðiện Biên) đang được cải tạo, nâng cấp. Trong thời gian không xa, hành trình của đoạn đường này chỉ còn sáu đến tám tiếng, du khách có thể dễ dàng lên ngã ba biên giới (giữa ba nước: Việt Nam, Lào, Trung Quốc). Lên đến nơi, mới thấy hết những khó khăn của công tác chăm sóc sức khỏe người dân, với tình trạng thiếu đội ngũ cán bộ có năng lực, khả năng vận hành của hệ thống y tế còn nhiều hạn chế. Giám đốc Trung tâm Y tế Mường Nhé Tao Văn Sân cho biết: Thiếu bác sĩ, nhất là bác sĩ chuyên khoa đang ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân. Toàn huyện mới đạt tỷ lệ 5,5 bác sĩ và 17,8 giường bệnh trên 10 nghìn dân; 10 trong tổng số 11 xã chưa có bác sĩ...
Thiếu nhân lực đang là tình trạng chung của các huyện vùng cao, nó là rào cản lớn nhất trong việc nâng cao chất lượng y tế ở các tỉnh miền núi. Ở đó, tỷ lệ bác sĩ, dược sĩ, số giường bệnh đều đạt mức thấp hơn so với bình quân chung cả nước. Nguồn nhân lực y tế, nhất là số bác sĩ đang bị thiếu hụt ở tất cả các tỉnh trong khu vực, chỉ khoảng bảy bác sĩ/mười nghìn dân (bình quân cả nước là 7,5 bác sĩ/mười nghìn dân); số dược sĩ đại học chỉ ở mức 0,56 dược sĩ/mười nghìn dân (thấp hơn nhiều so với mức bình quân của cả nước), mới có 64% số trạm y tế xã có bác sĩ làm việc (bình quân của cả nước là 77%), thậm chí ở một số tỉnh như Lạng Sơn, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu... số bác sĩ ở xã còn thấp hơn nữa. Tại các bệnh viện tuyến huyện thiếu bác sĩ chuyên khoa răng hàm mặt, tai mũi họng, mắt, hồi sức cấp cứu, nhi khoa...
Theo Phó Giám đốc Sở Y tế Ðiện Biên Lương Ðức Sơn, nguyên nhân chưa thu hút nhiều cán bộ y tế có chuyên môn là chính sách đãi ngộ chưa cao và những người làm công tác tuyên truyền, quản lý mạng lưới y tế cơ sở còn hạn chế về chuyên môn. Khi các tỉnh miền núi chưa xây dựng được chính sách đãi ngộ cán bộ hợp lý, tạo dựng được môi trường làm việc an toàn, hiệu quả, sẽ rất khó thu hút nguồn nhân lực đủ khả năng, trình độ và sự an tâm phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe đồng bào.
Nhằm đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân, các địa phương cần tạo nguồn bổ sung cán bộ cho các cơ sở y tế để bảo đảm chất lượng và cơ cấu hợp lý; xây dựng chính sách khuyến khích và thu hút cán bộ về công tác ở vùng cao, miền núi, vùng dân tộc thiểu số và các chuyên khoa khó tuyển người. Theo Vụ trưởng Tổ chức cán bộ (Bộ Y tế) Phạm Văn Tác, các tỉnh miền núi cần đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Bên cạnh đào tạo hệ chính quy còn có các hình thức đào tạo khác, như đào tạo hệ cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ cho đối tượng là người địa phương để tháo gỡ khó khăn về nhân lực. Cùng với đó là tăng cường đào tạo chuyên sâu (theo chuyên khoa, theo nhu cầu, theo ê-kíp) để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng của người dân. Thực hiện đào tạo liên tục nhằm cập nhật kiến thức mới, góp phần nâng cao năng lực cho tuyến y tế cơ sở để có thể thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, giảm tình trạng vượt tuyến không cần thiết.
Khám bệnh cho trẻ em tại Trung tâm y tế huyện Mường Nhé (Điện Biên).
Thời gian tới, Bộ Y tế sẽ đẩy nhanh tiến độ đề án thí điểm "Ðưa bác sĩ trẻ tình nguyện về công tác tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (ưu tiên 62 huyện nghèo)". Bên cạnh đó, Bộ thực hiện hiệu quả các đề án "Bệnh viện vệ tinh" chuyển giao công nghệ cho các bệnh viện tỉnh; Ðề án 1816 chuyển giao các gói dịch vụ cho bệnh viện tuyến huyện và tuyến tỉnh...
Ðầu tư thích đáng cho y tế cơ sở
Khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cũng là rào cản lớn trong việc nâng cao chất lượng y tế ở các tỉnh miền núi. Các tỉnh trong khu vực còn có tới 78 trạm chưa có cơ sở hoặc nhà tạm; 984 trạm đã xuống cấp cần xây mới; 1.380 trạm cần cải tạo, nâng cấp. Người dân trong vùng còn gặp các rào cản khác trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế như: điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập thấp; nhiều tập quán, hủ tục lạc hậu... Hiện hơn 95% số dân trong vùng có bảo hiểm y tế (BHYT), nhưng do kỹ thuật y tế chưa phát triển, số dịch vụ thực hiện được còn hạn chế, cho nên nhiều tỉnh có số kết dư quỹ BHYT lớn, có tỉnh kết dư lên tới 50% như Sơn La, Lạng Sơn. Ðiều này ảnh hưởng khả năng cân đối thu chi, tái đầu tư phát triển cơ sở y tế ở địa phương và quyền lợi thụ hưởng của người bệnh.
Là vùng có địa bàn rộng (chiếm một phần ba diện tính cả nước), dân cư thưa, khoảng cánh địa lý đến các cơ sở y tế quá xa, đi lại khó khăn cũng là nguyên nhân dẫn đến khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân các tỉnh trung du, miền núi phía bắc bị hạn chế. Trong khi đó, tại tỉnh Lai Châu có gần 50% số trạm y tế chưa được đầu tư đủ trang thiết bị, chỉ có những loại thông thường như bộ đo huyết áp, ống nghe; trung bình mới thực hiện được 50% danh mục kỹ thuật theo phân tuyến kỹ thuật của Bộ Y tế.
Nhằm gỡ khó cho y tế các tỉnh miền núi phía bắc, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, thời gian tới sẽ tập trung đầu tư hệ thống y tế từ tuyến xã, thôn, bản. Bộ Y tế sẽ hỗ trợ các tỉnh miền núi phía bắc nâng cao chất lượng hoạt động của trạm y tế xã. Trong đó, chú trọng xây dựng các trạm y tế xã có khả năng cung ứng dịch vụ tại chỗ cao hơn, thậm chí như một phòng khám khu vực. Trước mắt, Bộ Y tế sẽ huy động các nguồn kinh phí để xây dựng cho 14 tỉnh miền núi phía bắc 70 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia với tổng kinh phí 310 tỷ đồng (mỗi tỉnh năm trạm); đồng thời, sẽ ban hành tiêu chí mới về trạm y tế đạt chuẩn quốc gia đủ điều kiện cần thiết khám, chữa bệnh ban đầu và chăm sóc sức khỏe người dân. Khởi động cho mục tiêu này, trạm y tế đầu tiên trong 70 trạm của 14 tỉnh trung du miền núi phía bắc đã được khởi công xây dựng tại xã Cao Kỳ (huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Cạn). Ngoài ra, Bộ sẽ ưu tiên các nguồn vốn từ Trái phiếu Chính phủ, vốn viện trợ và các dự án ODA để tiếp tục đầu tư cải tạo, xây mới cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế miền núi, đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người dân cũng như nâng cao năng lực y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu...
Việc đầu tư cho y tế cơ sở là bảo đảm công bằng hơn trong tiếp cận dịch vụ y tế của người dân khắp các vùng miền, dân tộc. Song, muốn đạt được mục tiêu này thì ngoài vấn đề kinh phí, các địa phương cần phối hợp và có những chính sách đồng bộ khác, nhất là chính sách đào tạo, thu hút nhân lực để giúp cho công tác y tế ngày càng nâng cao. Ðồng thời, tuyên truyền sâu rộng đến từng thôn bản, từng hộ dân nâng cao ý thức bảo vệ chăm sóc sức khỏe bản thân, xóa bỏ các hủ tục ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề sức khỏe.
| 14 tỉnh trung du miền núi phía bắc gồm: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Ðiện Biên, Sơn La, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình. Các tỉnh có 47 huyện thuộc diện huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ (chiếm 50% số huyện nghèo cả nước); 2.223 xã thuộc vùng khó khăn theo Quyết định 1049/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (chiếm 58% tổng số xã thuộc diện khó khăn cả nước). (Thống kê của Bộ Y tế) |
| Muốn gỡ khó cho y tế các tỉnh miền núi phía bắc không chỉ cần tài chính mà còn cần yếu tố khác, nhất là vấn đề nhân lực. Do vậy, ngoài chính sách luân phiên cán bộ y tế tuyến trên về hỗ trợ tuyến dưới, các tỉnh miền núi cần chủ động hơn trong tổ chức bộ máy, đào tạo nhân lực y tế tại chỗ và có chính sách thu hút bác sĩ. Ðồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa, với sự vào cuộc mạnh mẽ của các bệnh viện lớn, cơ sở khám, chữa bệnh của lực lượng vũ trang... TRƯƠNG XUÂN CỪ Phó Trưởng ban phụ trách Ban Chỉ đạo Tây Bắc |