Gỡ khó cho nông nghiệp khi hội nhập

Khó khăn lớn nhất mà ngành nông nghiệp nước ta đang phải đối mặt là làm gì để tăng sức cạnh tranh khi bước vào hội nhập. Nhiều mặt hàng nông sản, chăn nuôi không hề thua kém các nước về diện tích, sản lượng, thậm chí là năng suất, nhưng đáng tiếc là chúng ta lại thua kém về chất lượng, thương hiệu. Thay đổi phương thức sản xuất để nâng cao chất lượng, thương hiệu là việc làm đòi hỏi ngành nông nghiệp phải quan tâm và quyết liệt hơn nữa.

Mô hình trồng thanh long theo hướng GAP để xuất khẩu được nhiều nông dân triển khai.
Mô hình trồng thanh long theo hướng GAP để xuất khẩu được nhiều nông dân triển khai.

Bài 1: Nông dân tự "làm mới”

Thực tế cho thấy, để chủ động trong xu thế hội nhập toàn cầu, nông dân các tỉnh, thành phố trong cả nước đã không ngần ngại đầu tư kinh phí; nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm theo hướng an toàn, từng bước tạo thương hiệu cho nông sản Việt Nam tiếp cận các thị trường trên thế giới. Đây là bước đột phá rất đáng trân trọng của nhiều nông dân với tư duy mới, nhận thức mới, kiến thức mới và quyết tâm mới.

Chủ động hội nhập…

Tại Tiền Giang, ông Võ Văn Chung (Hai Chung), ở ấp Lương Phú B, xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo là chủ trang trại nuôi lợn tư nhân lớn và hiện đại bậc nhất tỉnh. Hiện, trang trại của ông rộng 1,6 ha với quy mô đàn lợn gần 1.500 con. Theo ông, việc áp dụng những kỹ thuật chăn nuôi đúng quy trình, khoa học là điều vô cùng cần thiết, nhất là trong bối cảnh hội nhập. Bởi thực tế thời gian gần đây, ngành chăn nuôi nước ta, chịu nhiều thiệt thòi khi phải cạnh tranh với sản phẩm lợn, gia cầm… từ các nước về chất lượng và giá cả. “Theo tôi, mỗi chủ trại hiện nay, phải là người tiên phong trong áp dụng khoa học kỹ thuật để giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh. Nông dân các nước làm được, mình cũng làm được nếu có quyết tâm” - ông Chung nói.

Những gì đang diễn ra tại trang trại nuôi chim cút của ông Trần Nguyễn Hồ cũng ở Tiền Giang, cho thấy, nhận định của ông Chung hoàn toàn khả thi. Từ cuối năm 2013 đến nay, trang trại này phối hợp Công ty cổ phần Rau quả Tiền Giang xuất khẩu trứng cút sang Nhật Bản với số lượng hơn 16 tỷ quả trứng cút đóng lon, với giá cao hơn thị trường nội địa khoảng 20%. Theo ông, đây là chuyện mà bất cứ trang trại nào cũng cần tính đến khi hội nhập, nếu không muốn bị cuốn trôi theo làn sóng cạnh tranh của các nước tràn sang khi các hiệp định thương mại được ký kết. Ông nói: Thực ra, việc xuất khẩu một mặt hàng nông sản nào đó sang các nước là chuyện không khó. Vấn đề nằm ở chỗ, ít trang trại nào “để tâm” và tự tin thực hiện. Theo tôi, nếu không thay đổi tư duy sản xuất, chúng ta vẫn chỉ mãi là nông dân đúng nghĩa, tức là vẫn sẽ bán mặt cho đất, bán lưng cho trời mà vẫn không giàu lên được.

Muốn chủ động hội nhập, yếu tố then chốt là phải tìm được cách thức làm ăn hiệu quả nhất. Với suy nghĩ này, mới đây, chị Nguyễn Thị Hường ở xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh đã chủ động sang I-xra-en học hỏi kinh nghiệm chăn nuôi, phối tạo giống bò sữa mới. Dù chi phí chuyến đi không nhỏ, song qua đó, hứa hẹn chị sẽ sở hữu và phát triển giống bò nhiều sữa, mang thương hiệu riêng của Việt Nam.

Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp Lâm San, huyện Cẩm Mỹ (Đồng Nai) đã mạnh dạn đổi mới và thành công với mô hình trồng tiêu theo hướng an toàn. Chỉ sau vài năm áp dụng mô hình này, nhiều doanh nghiệp đến từ Nhật Bản, Đức… đã tìm đến đặt vấn đề hợp tác. Trong đó, một công ty của Nhật Bản ký hợp đồng thu mua gần 20 tấn tiêu ngay trong niên vụ tới đây. Giám đốc HTX Nông nghiệp Lâm San Nguyễn Ngọc Luân tỏ rõ quyết tâm: Chúng tôi sẽ tiếp tục làm theo cách này, nhưng để hiệu quả, chúng tôi còn nhiều việc phải làm, nhất là cải tổ lại năng lực của các thành viên Ban chủ nhiệm HTX. Đồng thời, sẽ xúc tiến ký kết các hợp đồng tiêu thụ với các doanh nghiệp nước ngoài đã về đây tham quan, tìm hiểu mô hình sản xuất tiêu sạch của HTX. Hội nhập, tính cạnh tranh rất cao, phải có sự chuẩn bị từ đầu mới có thể tồn tại được.

Không chỉ chủ động thay đổi cách thức làm ăn để tạo ra hiệu quả, nhiều nông dân chủ động để tìm kiếm thị trường tiêu thụ ổn định hơn trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Bà Bùi Thị Ba ở ấp 7, xã Lương Hòa, huyện Bến Lức (Long An) được người dân trong vùng gọi với tên thân mật là “Nữ hoàng” trồng chanh không hạt, là thí dụ điển hình. "Bén duyên" với cây chanh từ năm 2004, đến nay bà đã tạo ra thương hiệu vững chắc không chỉ riêng thị trường trong nước mà đã “vượt sóng” vươn ra thế giới. Tháng 5-2008, sản phẩm chanh không hạt của gia đình bà chính thức được bảo hộ thương hiệu với tên “chanh không hạt VICA”. Nhiều doanh nghiệp trong nước đề nghị liên kết xuất khẩu sản phẩm. Để thăm dò thị trường, đợt xuất khẩu đầu tiên, bà xuất khẩu 500 kg chanh, sau đó lên một tấn, hai tấn, rồi năm tấn. Hiện, mỗi ngày gia đình bà cung cấp cho thị trường khoảng 10 tấn chanh, trong đó 80% dành cho xuất khẩu. Sản phẩm chanh không hạt của bà đã có mặt ở nhiều nước Đông - Nam Á, Trung Đông.

Thiếu thông tin thị trường

Theo các chuyên gia nông nghiệp, để hội nhập thành công, ngành nông nghiệp Việt Nam phải hướng đến sản xuất lớn, nông dân cần được trang bị nhiều kiến thức, thậm chí phải chuyên sâu theo từng lĩnh vực. Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận, phần lớn nông dân hiện nay vẫn thiếu thông tin về hội nhập, chưa nắm bắt rõ định hướng của Nhà nước, cho nên làm nông nghiệp ở nước ta hiện nay phần lớn chạy theo thời giá, mùa vụ, manh mún, nhỏ lẻ, tự phát. Câu chuyện sản xuất và tiêu thụ không gặp nhau là một trong những bài toán khó giải nhất đối với nền nông nghiệp Việt Nam.

Trao đổi với phóng viên về vấn đề này, ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi tỉnh Đồng Nai cho hay: “Chúng tôi cần có những cơ chế, chính sách, thông tin để hình thành nên các vùng chăn nuôi rộng lớn, tăng sức cạnh tranh. Cụ thể như, nơi nào chăn nuôi phục vụ thị trường trong nước, nơi nào hình thành để phục vụ nhu cầu xuất khẩu… Trên cơ sở đó, mới bảo đảm được quy mô sản xuất, đáp ứng đòi hỏi về sản lượng, sản phẩm nhằm phục vụ tốt cho việc hội nhập. Người chăn nuôi nói riêng và nông dân nói chung hiện nay lại rất mù mờ về thông tin thị trường, do đó, mạnh ai nấy chăn nuôi, trồng trọt mà không theo chuỗi liên kết chặt chẽ nào. Cho nên, có nhiều thời điểm, giá gia súc, gia cầm, nông sản rớt thê thảm, nhiều nông dân phải chịu lỗ nặng”.

Chuyện của nông dân tỉnh Đồng Nai với cây siêu cao lương là một thí dụ. Chủ trương của tỉnh Đồng Nai là từ nay đến năm 2020 sẽ phát triển 3.000 ha cây siêu cao lương tại bốn huyện: Cẩm Mỹ, Xuân Lộc, Nhơn Trạch, Long Thành. Với sự tham gia của một doanh nghiệp nước ngoài trong việc liên kết sản xuất, bao tiêu cho nông dân, Đồng Nai hy vọng dự án này sẽ giúp nông dân địa phương có thêm lựa chọn để phát triển kinh tế. Song, nhiều nông dân vẫn tỏ ra băn khoăn với mô hình chuyển đổi này. Ông Nguyễn Đức Thơm, huyện Cẩm Mỹ (Đồng Nai) là một trong bốn hộ trồng khảo nghiệm loại cây này, băn khoăn: “Có nên trồng, nhân rộng hay không thì đến nay tôi vẫn chưa quyết định, vì giá cả như thế nào, đầu ra ra sao, chúng tôi chưa biết”. Không chỉ xuất phát từ tâm lý e dè của nông dân do đã quá nhiều lần thất bại với các loại cây, con mới trước đó, đây còn là hệ quả của việc hiện nay, các địa phương, thậm chí là ngành chức năng vẫn đang còn quá ít giải pháp để cung cấp thông tin, định hướng thị trường một cách chính xác cho nông dân…

Những nông dân mạnh dạn tìm hướng đi mới, mang sản phẩm xuất ngoại, tuy còn ít nhưng đã mở ra nhiều cơ hội cho sản phẩm nông nghiệp của nước ta tiến những bước dài trên con đường hội nhập. Tuy nhiên, để họ đủ mạnh và vươn xa hơn, cần có thêm những sự hỗ trợ của Nhà nước. Ông Phạm Minh Hùng, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Long An cho rằng: Những hỗ trợ cho nông dân còn quá ít và chưa tạo thành bệ đỡ cho nhiều nông dân sẵn sàng hội nhập sòng phẳng với nước ngoài.

Ông Trương Quang An, Chủ nhiệm HTX xã Thanh Long Tầm Vu, là một trong những nông dân đầu tiên ở Long An đưa sản phẩm thanh long ra thị trường quốc tế. Theo ông, để nông dân tự tin hội nhập, đòi hỏi Nhà nước phải hỗ trợ nông dân trong việc tìm ra những thị trường mới, ổn định. Cùng với đó là công tác hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật, giúp đỡ người dân thực hiện bài bản chương trình sản xuất sạch như GlobalGap. “Khi tham gia vào HTX, chúng tôi đều hướng dẫn người dân áp dụng những mô hình này. Tuy nhiên, do thị trường chưa mở rộng, giá thanh long sản xuất theo tiêu chuẩn GAP so với sản xuất bình thường, vẫn không có sự chênh lệch gì nhiều cho nên bà con vẫn chưa yên tâm đầu tư" - ông Trương Quang An cho biết.

(Còn nữa)