Những ý kiến từ Đại hội

Giúp phụ nữ tiếp cận, thụ hưởng chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội

(Trích tham luận của đồng chí HÀ THỊ NGA, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam)

Giúp phụ nữ tiếp cận, thụ hưởng chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội

Với vai trò là tổ chức đại diện, chăm lo bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam làm rõ một số vấn đề sau:

Thứ nhất, bảo đảm an sinh xã hội về nhà ở đối với lực lượng lao động nữ di cư. Theo một thống kê, khoảng 80% công nhân đang phải thuê nhà ở trong các khu nhà trọ chung quanh các khu công nghiệp; số công nhân được ở trong các khu nhà do doanh nghiệp xây dựng chiếm tỷ lệ rất thấp. Để bảo đảm quyền có nơi ở, chỗ ở cho mọi người dân, Nhà nước cần tiếp tục coi trọng vấn đề nhà ở là phúc lợi của người dân để có chính sách đầu tư thỏa đáng, từng bước giải quyết về vấn đề nhà ở cho người dân, trong đó có lực lượng lao động di cư. Đồng thời tạo cơ hội tiếp cận dịch vụ công về giáo dục, y tế cho con em và gia đình phụ nữ khó khăn, lao động nữ di cư.

Thứ hai, việc bảo đảm an sinh xã hội cho phụ nữ khi mang thai, sinh con. Thực tế cho thấy, phần lớn số phụ nữ không tham gia bảo hiểm y tế là do không tham gia lực lượng lao động, là người làm công ăn lương không chính thức hoặc làm công không hưởng lương. Đáng chú ý, trong số hơn 65% dân cư nước ta sống ở nông thôn, trong đó khoảng 48,5% là lao động nữ. Họ có mặt ở hầu hết các công việc của quá trình sản xuất, chế biến, kể cả những công việc nặng nhọc và độc hại... ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài tới sức khỏe, nhất là sức khỏe sinh sản nhưng họ hầu như chưa được hưởng hoặc hưởng chưa đầy đủ các chế độ thai sản. Việc bảo đảm an sinh xã hội cho phụ nữ mang thai, sinh con, nhất là đối với những người chưa được hưởng chính sách bảo hiểm là vấn đề cần quan tâm theo hướng bảo đảm cho phụ nữ có cơ hội, điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng tốt, nhất là hỗ trợ chế độ thai sản. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trân trọng đề nghị Chính phủ trong thời gian tới cần đánh giá việc triển khai thực hiện Nghị định 39 để có hướng mở rộng đối tượng thụ hưởng, giúp mọi phụ nữ sinh con đúng chính sách dân số đều được hưởng hỗ trợ của Nhà nước.

Thứ ba, việc bảo đảm an sinh xã hội cho phụ nữ nuôi con nhỏ, trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện nay chỉ có 28% số trẻ em trong nhóm trẻ dưới 36 tháng tuổi đến trường. Có nhiều nguyên nhân, trong đó không có nơi để gửi con là một trong những nguyên nhân chủ yếu. Ở những nơi có khu công nghiệp, khu chế xuất đông lao động nhập cư, hệ thống trường mầm non chỉ đáp ứng 44,4% nhu cầu. Hơn một nửa số trẻ trong độ tuổi được gửi vào các nhóm lớp tư thục. Ðiều đáng nói là các cơ sở thuộc loại hình này còn rất nhiều nhược điểm và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho trẻ. Không chỉ ở các khu công nghiệp, không chỉ đối với các gia đình di cư lao động, việc gửi con trẻ ở đâu, nhất là trẻ dưới 36 tháng tuổi còn là mối quan tâm chung của rất nhiều gia đình công chức, viên chức ở thành thị... Bởi vậy, Đảng, Nhà nước cần quan tâm thỏa đáng hơn nữa đến vấn đề này.

Thứ tư, việc bảo đảm an sinh xã hội tạo cơ hội có việc làm cho phụ nữ. Chiếm tỷ lệ hơn 50,23% dân số, phụ nữ là nguồn nhân lực quan trọng của đất nước. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ trong độ tuổi lao động lên đến hơn 66%, cao hơn hẳn so với phần lớn các quốc gia trên thế giới. Theo báo cáo năm 2019, còn khoảng 79,5% lao động nữ trong độ tuổi lao động chưa qua đào tạo. Đây là nhóm yếu thế trên thị trường lao động, với tỷ lệ thất nghiệp cao, việc làm bấp bênh, thu nhập thấp. Những vấn đề đó đã tác động rất nhiều đến cuộc sống gia đình, cơ hội phát triển nghề nghiệp đối với lao động nữ. Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có chủ trương, chính sách để bảo đảm nghề cho lao động nói chung, lao động nữ nói riêng qua các chương trình, đề án. Tuy nhiên, các đề án này có thời gian đào tạo ngắn, chủ yếu đào tạo trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới ba tháng, nội dung đào tạo tập trung vào một số lĩnh vực, ngành nghề mang tính giản đơn, chưa tạo ra thay đổi căn bản để người lao động thích ứng với tình hình mới. Do vậy, để giúp lao động nữ có cơ hội việc làm, Nhà nước cần lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng và thực thi các chính sách đào tạo nghề, có chính sách đào tạo nghề riêng cho phụ nữ, có các chính sách cho phụ nữ, bảo đảm cho nữ có cơ hội lựa chọn ngành nghề đúng với năng lực, sở trường.

Qua nghiên cứu và từ những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trân trọng đề nghị Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm chỉ đạo các ngành chức năng nghiên cứu để hoàn thiện các chính sách có lồng ghép giới theo quy định của Luật Bình đẳng giới, tạo điều kiện để phụ nữ nói chung, nhất là phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ, phụ nữ nông thôn, phụ nữ di cư, phụ nữ dân tộc thiểu số có cơ hội được tiếp cận, thụ hưởng đầy đủ các chính sách an sinh xã hội. Đây là nền tảng phúc lợi, là ưu việt mà chế độ xã hội chủ nghĩa mang lại cho mỗi người dân

Có thể bạn quan tâm