Thổn thức nhịp cồng, chiêng
Nhạc sĩ Kpă Y Lăng, nguyên gốc là người con của dân làng Xí Thoại đang sống ở TP Hồ Chí Minh. Được tin nhạc cụ trống đôi, cồng ba, chiêng năm của dân tộc mình vừa được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, ông đã về làng từ chiều 21-2-2016 để hôm sau dự buổi lễ đón Bằng công nhận di sản.
Đêm họp mặt dân làng, nhạc sĩ Kpă Y Lăng khẳng định: Từ bao đời nay, đồng bào các dân tộc miền núi luôn coi trống đôi, cồng ba, chiêng năm là một tài sản vô cùng quý báu, là vật biểu thị sức mạnh trong đời sống vật chất và tinh thần của các cộng đồng dân tộc. Về mặt vật chất, cồng, chiêng là biểu hiện sự giàu có của từng gia đình, dòng họ, buôn làng. Có những bộ chiêng quý, nhiều gia đình phải đổi ngang giá vài chục con trâu - Đó là những bộ chiêng có âm sắc chuẩn, là "tiếng nói" và linh hồn của dân tộc mình.
Từ ngàn xưa, cồng, chiêng đã gắn bó mật thiết với đồng bào, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống tinh thần các dân tộc vùng núi rừng Trường Sơn - Tây Nguyên nói chung và các dân tộc miền núi Phú Yên nói riêng. Nó góp mặt trong tất cả các sự kiện quan trọng của đời người từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh cho đến lễ bỏ mả. Cồng, chiêng còn quy tụ chung quanh mình nhiều loại hình nghệ thuật dân gian như nhảy múa, hát khan, nghệ thuật tạo hình, kiến trúc, điêu khắc... Về âm nhạc, cồng, chiêng có sức vang xa, có tổ chức hoàn chỉnh từ giai điệu, hòa âm, phức điệu. Cũng có thể tìm ở cồng, chiêng những giá trị cao về thẩm mỹ, về tính dân chủ (bình đẳng), tính tập thể (cộng đồng)... khi đi sâu vào nghiên cứu, các nhà chuyên môn còn cho rằng, hầu hết phong tục, tập quán của các dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên đều thể hiện qua tiếng cồng, chiêng.
Tiếng chiêng của dân tộc Ê Đê mừng trẻ sơ sinh đầy cữ, có ý nghĩa công nhận chính thức đứa trẻ đã hòa nhập vào cộng đồng, được mang truyền thống của dòng tộc, buôn làng đối với một con người mới, biết vượt qua mọi khó khăn để tồn tại. Tiếng chiêng trong lễ cầu hôn nhắc nhở đôi trai gái yêu thương bền chặt, thủy chung, tuân thủ truyền thống, giữ trọn đạo nghĩa vợ chồng. Cồng, chiêng xua đuổi khi thú giữ về phá rẫy nương; thúc giục trai tráng, dân làng xung trận khi có chiến tranh và cổ vũ mọi người chiến đấu quên mình vì sự tồn vong của cộng đồng, dòng tộc. Khi buôn làng có người qua đời, tiếng chiêng nghe buồn bã, chậm chạp nỉ non; kêu gọi mọi người cùng nhau lo liệu, chia sẻ nỗi đau, tiễn biệt người đã khuất trong tình đoàn kết, yêu thương nhau hơn...
Trong lễ hội, khi cồng, chiêng xuất hiện thì không khí và nghi thức lễ hội mới bộc lộ rõ nét. Nói cách khác, cồng, chiêng và lễ hội trong mối liên hệ hữu cơ, không có cồng, chiêng thì lễ hội không thành. Bất cứ lễ hội nào của đồng bào, cồng, chiêng bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo gây phấn khích, thu hút mọi người nô nức vào hội; khuấy động không gian lễ hội tràn ngập niềm hân hoan để mọi người tìm về bên nhau, nam nữ dắt tay nhau vào những điệu múa uyển chuyển, dồn dập, say đắm hết mình. Già làng Ma Ngoe ở thôn Phú Hải, xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân có lần đã nói: Làng có thể dời đi do đất ở không phù hợp hoặc do luật tục quy định. Đời sống dân làng có lúc no, lúc đói do chiến tranh, thiên tai, địch họa nhưng cồng, chiêng không thể rời xa con người, buôn làng không thể thiếu tiếng cồng, chiêng.
Biểu diễn trống đôi hòa tấu kèn đá, đàn đá.
Có gì vui hơn, khi buôn làng chìm trong đêm tĩnh lặng, mọi người quây quần bên bếp lửa hồng, đây đó chợt đong đưa giai điệu cồng, chiêng sâu lắng, gợi tình người xích lại gần nhau; cũng là lúc ghè rượu no tròn, cần vút cong, miếng thịt nướng thơm phưng phức, làm sáng lên tình yêu thương trên gương mặt rạng rỡ của gia đình. Trong đêm ning nơng (tiếng Bana là nghỉ ngơi) trăng thanh, gió mát, cồng, chiêng mời gọi trai gái vui quần múa hát, tỏ tình...
Em như hoa bêng - bung đang nở
Em như hoa bêng - pang trổ lá trổ hoa
Em như ngôi sao ngân hà nhảy múa
Anh muốn như chim Kbong bay bay cao
Anh muốn như chim Klang lượn nhào đôi cánh
Anh muốn như ánh nắng mai lấp lánh sớm chiều
Để được đến bên em, ơi em quý em yêu …!
Cồng, chiêng của dân tộc Bana - Chăm H'roi đệm lời bài hát trong lễ hội Đâm trâu:
Ơ thần núi thần sông
Ơ ma ông, ma bà Cho chúng tôi nhiều heo gà bò trâu
Cho chúng tôi mạnh khỏe đẹp giàu
Lúa đầy bồ, nồi gang nâu to nhỏ Có đi xa không lạc ngõ, lầm đường...
Ngày nay, khi "không gian văn hóa cồng, chiêng Tây Nguyên" đã trở thành kiệt tác truyền khẩu và là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, đóng vai trò và khẳng định giá trị bản sắc cộng đồng văn hóa các dân tộc khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên, thì cồng, chiêng các dân tộc miền núi Phú Yên cũng là một bộ phận góp phần làm phong phú, đa sắc, đa hình và độc đáo, làm giàu vốn văn hóa dân gian các dân tộc Việt Nam nói chung và các dân tộc Phú Yên nói riêng.
Còn tiếng trống đôi, hội chưa giã bạn
Sáng hôm lễ đón Bằng công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia nghệ thuật trình diễn: “Trống đôi, cồng ba, chiêng năm” được tổ chức tại thôn Xí Thoại, ông La Chí Thái, già làng Xí Thoại trong trang phục tươm tất dân tộc Bana, rành rọt khi trả lời các phóng viên: “Nhận ra cái hay, cái quý của cồng, chiêng, trống đôi của dân tộc mình cho nên từ sau năm 1975, khi làng yên ổn theo chính sách định canh, định cư; dù thời ấy hầu hết dân làng nhà ở còn tranh tre, vách nứa nhưng bà con hùn nhau mua một bộ cồng, chiêng cổ còn sót lại từ vùng cao Thồ Lồ, giá bằng cặp bò đực mụt; lặn lội về xuôi (đồng bằng) tìm mua một bộ da trâu và lõi gỗ mít để chế tác trống đôi. Không biết có phải đội văn nghệ của làng mình chơi hay nhất không nhưng từ đầu những năm 1990 đến nay, tham gia liên tục vào các kỳ liên hoan, hội diễn cấp huyện, tỉnh, khu vực và toàn quốc. Nay được Nhà nước công nhận vật quý của quốc gia, già này cũng thấy mát cái bụng…”.
Theo các chuyên gia âm nhạc dân tộc, trong bộ hòa thanh trứ danh trống đôi, cồng ba, chiêng năm, vai trò và tác dụng của múa trống đôi thường gây ấn tượng mạnh nhất, làm cho các cuộc hội vui đến nức lòng. Mỗi loại nhạc cụ có điệu thức riêng: Chiêng năm giữ giai điệu khoan nhặt, thanh thoát, âm vang ngân xa; cồng ba giữ bè trầm sâu lắng mượt mà. Sự có mặt của trống đôi luôn làm cho người ta say hội; làm cho cuộc hòa thanh tìm được sự đồng điệu, chảy rót vào nhau, tạo cho cuộc hội đạt tới cao trào của sự hứng khởi. “Còn tiếng trống đôi hội chưa giã bạn” là vậy! Điệu thức của trống đôi là một tập hợp những chuỗi tiết tấu đầy ngẫu hứng, không được giới hạn trong một trường độ, cao độ nhất định. Đôi nam nghệ nhân ra biểu diễn, mỗi người một trống mang vào vai và múa theo nhịp trống từ chính đôi tay của họ tạo ra; tiết tấu thưa nhặt, dồn dập, âm điệu ngẫu biến chồng lên nhau, biến hóa, gợi lên trong trí nhớ người nghe sự tưởng tượng - âm điệu róc rách của suối, bập bùng của lửa và mưa nguồn thác đổ của đại ngàn. Múa trống đôi còn có một ngữ điệu rất riêng đó là thông qua tiếng trống, điệu múa của hai nghệ nhân biểu diễn có thể truyền cho nhau những ký hiệu biểu cảm như một cuộc giao tiếp chuyện trò.
Người Chăm H’roi, Bana ở Phú Yên cho rằng, đánh trống đôi là một cách nói chuyện sâu lắng nhất. Khi hai người song diễn, luôn luôn có một người nêu câu hỏi và buộc người cùng chơi phải đối đáp; tiếng trống thay cho lời, điệu múa nói lên cách ứng xử. Đồng điệu, thích nhau thì âm trống, điệu múa hòa quyện nghe rất "sướng tai, lạ mắt". Còn ví như không ưa nhau thì tiếng trống nghe đốp chát, tức giận, biểu hiện coi thường bạn chơi. Do đó, nghệ nhân múa trống đôi phải là một cặp “ngang sức ngang tài” người tung, kẻ hứng, hiểu ý nhau mới giữ cho cuộc chơi trọn vẹn.
Già làng kể rằng, có một bận hai làng cử đại diện giao lưu, thử sức tài nghệ múa trống đôi; cuộc chơi giữa chừng, nghệ nhân làng bên cởi trống đôi vung quẩy bỏ về, người xem theo hỏi tại sao? Anh ta nói rằng “nó coi thường, chơi xỏ tao” công chúng ai mà biết nghệ nhân kia đã chơi xỏ cái gì? Điều đó chỉ có hai nghệ nhân mới rõ. Già làng khẳng định “Ai không thạo trống đôi không nghe được lời của nó”.
Trống đôi còn một nét độc đáo nữa, đó là nghệ thuật biểu diễn, trống không gọi là đánh trống mà gọi là múa trống đôi. Chơi trống còn "bập bẹ" thì có nhiều người biết nhưng để đạt trình độ nghệ nhân, thể hiện được đặc tính nói trên thì một làng chỉ có vài người. Biểu diễn trống đôi rất khó, đây là một cuộc chơi tổn hao trí lực. Một nghệ nhân chưa tập luyện trước, phục vụ một đêm lễ hội, cơ thể mỏi nhừ hơn một ngày vung dao phát rẫy. Cứ tưởng tượng mà xem, mang một cái trống nặng năm bảy ký, đôi tay thường xuyên múa may va đập, chặt xuống, vuốt lên hai bên mặt trống, tang trống để tạo nên âm thanh toóc, toóc, bụp bùm bum, chát... toàn thân lại phải tung bật, nhảy múa liên hồi; những lúc tiết tấu dồn dập, sướng lên còn xoáy hai mũi bàn chân vào nền múa, tóe bụi thì mới đã... Cách chơi như vậy, người có đủ trí lực múa trống đôi chỉ là những nam thanh niên có sức khỏe, cả tố chất thông minh và sáng tạo...
Nghệ sĩ Ưu tú, Nhạc sĩ Ngọc Quang, nguyên Chủ tịch Hội Văn học - nghệ thuật Phú Yên là người nhiều năm chuyên tâm nghiên cứu, gắn bó với nhiều loại nhạc cụ dân tộc thiểu số tỉnh Phú Yên, đã có nhận xét: "Múa trống đôi là một sự phối hợp đầy ngẫu hứng và sáng tạo, rất độc đáo của người Chăm H'roi, Bana. Điều kỳ diệu là nhiều nghệ nhân ở đây chưa hề biết một nốt nhạc nhưng khi biểu diễn, họ ứng biến tài tình như một nhạc công có trình độ "cao siêu". Từ ngẫu hứng dâng trào dẫn đến tự do phá thể, nghệ thuật múa trống đôi có nét ngẫu hứng giống như nhạc công chơi nhạc Jazz. Tôi có trạng thái vô cùng hứng khởi khi nhắm chút rượu cần, nghe trống giục giã là không thể ngồi yên, như về đây để say nhịp trống đôi…".