Chị Nguyễn Thị Tâm, Trưởng ban liên lạc nữ bộ đội, thanh niên xung phong đường Trường Sơn thành phố Thái Bình cho biết trong danh sách hội viên có gần 1.100 chị em, trong đó 90% chị có hoàn cảnh gia đình khó khăn và mang các mầm bệnh trong người. Chỉ 30% trong số đó được hưởng chế độ, chính sách của Nhà nước, 40 - 50% mắc các căn bệnh hiểm nghèo chưa được hưởng một chế độ nào. 18 chị mắc bệnh vô sinh, 12 chị không có gia đình. Có tới 10 chị đã tìm tới cửa phật nương nhờ trong những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời vì xuất ngũ nhưng không thể xuất giá, càng không thể chịu đựng được những gièm pha của hàng xóm, láng giềng.
Chị Nguyễn Thị Cúc ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư đi bộ đội năm 1972. Những cơn đau thần kinh hành hạ khiến những gì trong quá khứ làm chị lúc nhớ, lúc quên. Giờ chị không nhớ nổi nơi mình đóng quân ở đâu nữa. 23 tuổi đời, chị xuất ngũ với căn bệnh sốt rét mãn tính, sa lá lách độ ba. Những cơn sốt ác nghiệt làm đôi mắt của chị cứ mờ dần rồi mù hẳn. Với tỷ lệ thương tật 25%, hằng tháng, chị lĩnh 285 nghìn đồng tiền chế độ nhưng chẳng nhớ mình nhận tiền chế độ bệnh binh hay chất độc da cam cũng không đủ trang trải tiền thuốc cho trạm xá. Chị có bốn cô em gái nhưng đều lấy chồng xa. Giờ trong căn nhà tình thương vừa xây dựng năm 2002 với bà mẹ già gần 90 tuổi bị gẫy chân chị vẫn còn nợ 4 triệu đồng nhưng không biết đến bao giờ mới trả nổi.
Hai mẹ con chị Cúc có một sào ruộng quanh năm nhờ họ hàng, làng xóm cấy hái hộ. Trái nắng, trở trời, hai người phụ nữ bất hạnh bị bệnh tật hành hạ. Cuộc sống cơ cực lại càng cơ cực hơn. Nghe lời khuyên của đồng đội, rằng chị muốn có thêm tiền hưởng chế độ phải đi bệnh viện xác nhận lại thương tật nhưng 20 năm qua, chị chỉ đi xa nhất là lần tường ra ngoài ngõ rồi trở vào nhà, chẳng biết bệnh viện ở đâu, đi bằng phương tiện gì nên đành chấp nhận buông trôi. Ngôi nhà đơn sơ chẳng có vật dụng gì đáng giá luôn quạnh quẽ tiếng người, thi thoảng vào ngày 27-7 hay lễ tết, có đoàn này, đoàn kia đến thăm chốc lát, lại phải chờ thêm một năm nữa họ mới quay lại...
Tất cả những người phụ nữ quê hương năm tấn mà tôi gặp đều có một cuộc sống khó khăn, mất mát và hy sinh nhưng toát lên ở họ là nghị lực sống phi thường. Tôi hiểu rằng chính trong những ngày tháng tôi rèn trong quân ngũ đã giúp họ có ý chí và nghị lực để vượt lên hoàn cảnh khốn cùng của mình.
Người đàn bà ngồi trước căn bếp trống tuềnh toàng, tay cầm kìm, dây thép đang buộc lại căn lồng nhốt thỏ, bởi mới hôm qua, một con đã bị kẻ trộm lấy mất. Chị là Bùi Thị Tâm ở xã Vũ Trung, Kiến Xương. Sau khi giải ngũ, người đồng đội cũng là người bạn đời trở về địa phương, anh làm cán bộ xã, chị làm công tác đoàn thể. Lấy nhau được 8 năm, trong một lần lên viện 108 khám, chị mới biết mình bị ảnh hưởng chất độc da cam, không thể có con. Gia đình chồng họp nội tộc, quyết định chị phải ra đi để anh đi bước nữa, đẻ con nối dõi. Anh đứng trước họ tộc tuyên bố chị là người anh yêu thương nhất, cuộc đời này anh chỉ lấy một người vợ. Từ đó, bố mẹ và anh chị em hắt hủi chị như phận con ở. Năm 1982, chị và anh xin được đứa con nuôi. Không thể chịu sự dè bỉu và dị nghị của dân làng, anh chị ra miếng đất rìa làng cất tạm ngôi nhà để tránh xa điều tiếng. Chị bảo, vì chị mà cho tới bây giờ hễ cô gái nào đi bộ đội về làng là y như rằng không lấy được chồng. Anh dù sao cũng tủi phận, nhiều lúc ốm đau, muộn phiền lấy rượu giải khuây, lắm lúc cũng thượng cẳng chân hạ cẳng tay với vợ. Chị biết tính anh đành cắn răng chịu đựng bởi vũ phu không phải là bản tính của chồng. Thằng con nuôi được anh chị thương yêu hết mực học hết phổ thông, đòi đi làm kiếm tiền chị nhất quyết bắt nó thực hiện nghĩa vụ quân sự. Là lính ba năm ở đảo Trường Sa, tháng nào nó cũng đôi ba lần viết thư, gọi điện cho mẹ, nhất là từ khi bố mất cách đây hai năm. Tết vừa rồi, bố mẹ đẻ và chị em của nó ngay ở làng bên cạnh sang nhận con, nhận em, thì thái độ của thằng con thay đổi hẳn. Mỗi lần nó xin phép sang làng bên chơi, chị nằm ở nhà trằn trọc cả đêm với nỗi lo vô hình bóp nghẹt trái tim. Họ hàng, làng xóm kháo nhau, thằng con chị không phải đi làm ăn Sài Gòn mà xuống Quảng Ninh làm ăn với bố mẹ đẻ. Ðã thế, chẳng một dòng thăm hỏi từ khi nó đi làm ăn tới giờ, nỗi ngờ vực của chị càng tăng. Nhưng tôi biết chị vẫn hy vọng, 26 năm chị nuôi dưỡng, ấp ôm nó, có lẽ nào...
May mắn hơn những đồng đội khác, chị Trần Thị Nấng ở xã Vũ Hội, Vũ Thư trở về quê hương lập gia đình với người đồng đội cũ. Có mang năm lần, hai lần đầu đẻ non. Ðến lần thứ ba sinh được quý tử. Anh chị và họ hàng mừng như bắt được vàng. Từ bé, Chi ốm đau quặt quẹo liên miên, thi thoảng lăn đùng ra giẫy đành đạch và ngất xỉu. Số lần ngất xỉu ngày càng tăng nhưng cậu vẫn lớn nhanh như thổi nên anh chị chủ quan chẳng để ý. Lên tới lớp 6, đôi mắt Chi bị mờ nhưng chẳng có tiền thuốc thang chạy chữa. Học dở cấp hai, Chi nghỉ học. Ði làm thuê khắp từ Bắc, chí Nam cũng tự mua kính cho mình và gửi tiền về phụ bố mẹ nuôi hai em. Năm 2002, mắt em mờ hẳn, tay chân cứng đờ, anh chị tá hỏa xuống Bệnh viện Mắt trung ương chụp cắt lớp thì một tin sét đánh ngang tai, con chị sẽ bị mù vĩnh viễn bởi nhiễm chất độc da cam. Trở về quê, chị vội vàng tìm cho cậu con trai một cô vợ mong có thằng cháu nỗi dõi tông đường. Lấy vợ được mấy bữa bệnh tật của Chi ngày càng nặng, mắt mù hẳn, thần kinh tê liệt, chân tay không cử động được. Cô vợ cưới vội cũng bỏ đi biệt tăm. Cho tới tận bây giờ, chị Nấng và cậu con trai chưa được hưởng trợ cấp của người nhiễm chất độc da cam, âu cũng là một phần lỗi của chị. Bởi khi biết bệnh của con vì không muốn bà con làng xóm biết thằng bé bị nhiễm chất độc, sẽ không lấy được vợ, nên cứ cố giấu giếm đi.
Nói chuyện với chúng tôi trong nước mắt ngập tràn của sự đau khổ, tuyệt vọng, chị Nấng xoa bóp chân tay cho thằng con trai 27 tuổi đầu ngồi im trên chiếc ghế như khúc gỗ, ruồi muỗi bay đầy người không có cảm giác gì. Chị xót xa: Nó là thằng con trai cao to, vạm vỡ, đẹp trai nhất nhì xóm. Hằng đêm, chị phải thức trông con để dìu nó đi vệ sinh không lại tràn trề ra giường chiếu. Trước đây, chị đi đồng nát để kiếm tiền nuôi con, nhưng bây giờ không để mắt tới nó, khi mỏi, nó lại đổ ụp xuống như cây chuối. Vừa mới tuần trước thôi, đã phải đi bệnh viện khâu bảy mũi ở đầu vì ngã. Mọi việc đồng áng, cơm nước do chồng chị lo. Hai đứa con gái, một đi lấy chồng, một đi học nghề và làm thêm gửi tiền về phụ bố mẹ. Ước mơ có thằng cháu nỗi dõi tông đường giờ trở thành nỗi ám ảnh của chị. Chiều chiều, trẻ con hàng xóm, thường chạy sang nhà bà Nấng chơi vì nhà có cây bưởi có tới vài trăm quả nhưng anh chị không bán, để cho bạn bè con về chơi, đồng đội đến thăm biếu vài quả và cho lũ trẻ con hàng xóm. Ðó cũng là nguồn vui nho nhỏ lúc xế bóng chiều tà.
Còn rất nhiều trường hợp nữ bộ đội và thanh niên xung phong Trường Sơn ở Thái Bình chưa được hưởng trợ cấp. Trường hợp chị Dần ở phường Bồ Xuyên thị xã Thái Bình lấy chồng nhưng vô sinh, chị nhận con nuôi ở tận Hải Phòng và giấu biệt tung tích của nó. Cho tới tận bây giờ chị chưa được hưởng chế độ chị không dám đi làm vì sợ con nuôi biết chị không phải là người đẻ ra nó. Chờ cho tới khi cậu con trai lên đường nhập ngũ, chị mới "tranh thủ" đi làm giấy tờ. 30 năm qua, chị chấp nhận thiệt thòi, không được hưởng một đồng trợ cấp nào, chỉ vì nỗi khát khao làm mẹ.
Sư thầy Khiếu Thị Mừng tu ở chùa Ngô Xá, Vũ Thư đã vào chùa khi xuất ngũ được ít thời gian. Do chịu ảnh hưởng bởi chất độc da cam nên thầy thường xuyên phải vào bệnh viện cấp cứu vì các chứng bệnh thần kinh, suy tim, phổi đau nhức hành hạ...Và còn rất nhiều, rất nhiều hoàn cảnh đau lòng khác...
Tạm biệt quê hương Năm tấn, rời xa mảnh đất đã từng một thời cống hiến cho Tổ quốc những người con anh hùng, lòng tôi nặng trĩu một nỗi buồn khôn tả. Cả cuộc đời tuổi trẻ tươi đẹp nhất, các chị cống hiến cho Tổ quốc. Khi đứng bóng, xế tà ở quãng cuối cuộc đời, đáng lẽ các chị phải được hưởng một cuộc sống an nhàn, hạnh phúc quây quần với con cháu, nhưng số phận lại bắt các chị chịu cảnh cô quạnh, khổ đau. Vậy đâu là lẽ công bằng: Sự quan tâm của các cấp chính quyền, đoàn thể địa phương còn có hạn, sự xa lánh, không cảm thông, chia sẻ của bà con hàng xóm hay chính sự nhận thức của các chị đã làm nên những giọt nước mắt không dễ gì cảm thông và chia sẻ này.