Văn hóa và Phát triển

Gìn giữ nghề dệt truyền thống Tây Nguyên

Nghề dệt thổ cẩm hiện nay của người Tây Nguyên là sản phẩm của một thời tự cung tự cấp. Họ mày mò làm ra để mặc, sử dụng và hầu như không trao đổi, không coi đó là một thứ hàng hóa.

Phụ nữ làng Nghe Nhỏ (thị trấn Kông Chro, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai) bên khung cửi dệt thổ cẩm truyền thống. Ảnh: HÀ ĐỨC THÀNH
Phụ nữ làng Nghe Nhỏ (thị trấn Kông Chro, huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai) bên khung cửi dệt thổ cẩm truyền thống. Ảnh: HÀ ĐỨC THÀNH

Độc đáo thổ cẩm Tây Nguyên

Người Tây Nguyên mày mò dệt vải, may quần áo từ những sợi chỉ lấy từ cây gai rừng... Chả biết ai là người đầu tiên gọi những tấm vải, váy, khố, áo... là thổ cẩm. Nhưng người Tây Nguyên thì không gọi thế. Cũng như lâu nay gọi cơm nướng ống lồ ô của người Tây Nguyên là cơm lam. Thật ra không phải thế. Lam là động từ, chỉ một cách nấu cơm của người dân tộc phía bắc, là nấu trong ống nứa; và khi vào thấy người Tây Nguyên cũng nấu như thế thì gọi đấy là cơm lam. Lâu dần, đến giờ, một số nhà hàng của chính người Tây Nguyên cũng gọi món cơm ống của mình là cơm lam. Và không chỉ có lam cơm, người ta còn lam cá, lam thịt, lam rau... có lẽ bởi nó ra đời từ cái thời chưa có đồ đồng, đồ sắt, phải dùng cái ống nứa thay nồi. Cũng như cái cách ta gọi Khan, Hơ a mon, H’ri của người Tây Nguyên là trường ca hoặc sử thi. Cứ gọi thế, nhưng khi xuống làng hỏi thì đồng bào ngơ ngác hết...

Ở Tây Nguyên hiện nay, những người, những cơ sở dệt thổ cẩm còn tồn tại đã trở thành những điển hình đáng quý. Tôi từng biết hai địa chỉ như thế. Một là Cô nhi viện Vinh Sơn ở Kon Tum. Các sơ đưa những đứa trẻ bị người Tây Nguyên bản địa bỏ rơi ở khắp nơi về nuôi. Và để có tiền lo cho hàng trăm cháu, họ làm đủ nghề, trong đó có dệt thổ cẩm để bán lẻ và bán sỉ; những món đồ như túi, áo, váy, ví... Hai là, người phụ nữ tên Siu Khang ở plei (làng) Bông, quê hương của họa sĩ Xu Man. Chị cặm cụi dệt vải, được dăm, sáu tấm lại mang ra khỏi làng đi bán, thay vì ngồi ở nhà chờ khách thi thoảng đến mua...

Các tấm thổ cẩm dệt của người Tây Nguyên có nhiều công dụng. Làm áo, khố, váy, dồ (để đắp và quấn ngang làm địu),... Về sau, những loại hàng này bằng chất liệu vải mới bán ở chợ vừa rẻ vừa nhiều, mầu sắc hấp dẫn nên nghề dệt thổ cẩm có nguy cơ mai một. Bởi dệt được tấm vải thổ cẩm cũng mất từ một đến vài tháng, bán thì rẻ.

Ngày xưa, bà con vào rừng tìm cây gai về tước vỏ lấy sợi rồi nhuộm. Người Tây Nguyên chuộng những mầu như đỏ, đen, chàm xanh (cũng có thể là do dễ nhuộm). Từ sợi ấy dệt thành vải và dùng vải ấy may các loại đồ dùng. Mới nhìn, có cảm giác mầu sắc, hoa văn trên trang phục truyền thống của tất cả cư dân trên dải đất Tây Nguyên đều giống nhau. Song sự thật không phải thế, mỗi dân tộc có họa tiết, hoa văn, cách phối mầu và vị trí khác nhau... Sở dĩ mới nhìn, cảm giác giống nhau là bởi sự tương đồng lớn. Ngay ở Gia Lai có hai dân tộc bản địa chính là Gia Rai và Ba Na, nếu nhìn tinh sẽ thấy hoa văn trên váy hoặc tua khố của họ khác nhau. Đồng bào Tây Nguyên thường trong đời chỉ có vài bộ váy áo, do họ tự dệt. Cũng bởi dệt được một tấm vải để làm dồ, váy, áo hoặc khố rất công phu và lâu, nên giờ đồng bào “cải tiến”, mua chỉ mầu về dệt vừa nhanh mà lại đẹp, nhiều mầu sắc.

Để thổ cẩm sống mãi cùng Tây Nguyên

Nghe nói làng Glar, huyện Đác Đoa, Gia Lai còn một gia đình duy trì nghề dệt đang “ăn nên làm ra”, tôi cùng một người bạn háo hức chạy xe xuống thăm. Đường làng giờ đã bê-tông hết. Chúng tôi vào tới sân, mẹ con chị Mlop mới hay. Qua câu chuyện, được biết cơ sở của chị phát triển từ việc Trung tâm Khuyến công tỉnh Gia Lai về xã đầu tư mở lớp dệt khá hiện đại; mỗi học viên đi học dệt vải được Nhà nước chi 15 nghìn đồng/ngày. Chị Mlop là giáo viên được khoán trọn gói một khóa ba tháng là 5 triệu đồng. Dạy ở lớp, về nhà chị lại mở xưởng, vừa dạy vừa giúp chị em trong làng có thêm thu nhập. Bất cứ ai nhàn rỗi tìm đến chị, đều có việc để làm. Đơn giản nhất là gỡ chỉ trong các cuộn thành từng sợi, với nhiều mầu sắc theo thứ tự. Xong đấy thì đến dệt. Từng sợi chỉ đưa vào dệt thủ công, sẽ cho những miếng vải đủ loại để may từng thứ như yêu cầu. Mỗi người đến làm ở nhà chị đều được trả khoán theo công việc, từ 30 đến 100 nghìn đồng/người/ngày. Mùa khô ít người làm, bởi bà con bận đi rẫy; mùa mưa phụ nữ trong làng đến nhiều; hè thì các cháu học sinh. Chịu khó làm thêm cho nên bà con cũng có đồng ra đồng vào chi tiêu sinh hoạt, vừa bớt nhàn rỗi, vừa say sưa gìn giữ vẻ đẹp sản phẩm đậm sắc màu truyền thống của dân tộc mình. Xưởng của Mlop cũng liên quan đến Cô nhi viện Vinh Sơn. Hàng làm ở đây dồn lại, chị và con gái chạy xe máy (khoảng 70 km) hoặc đi xe buýt lên Kon Tum, bỏ mối cho các sơ; bởi Kon Tum du lịch phát triển hơn, nhất là khu vực nhà thờ gỗ, tòa giám mục và ngay cả Cô nhi viện Vinh Sơn. Mọi người vào thăm rồi mua hàng; mua về sử dụng và cả mua ủng hộ. Ngoài ra, còn mang lên thành phố Plây Cu ký gửi. Rồi một vài tỉnh phía nam cũng đặt, chị lại đóng thùng chở ra bến gửi xe đò...

Trò chuyện với bà con dân tộc một số nơi, tôi được biết, giờ mỗi người cũng chỉ sắm một bộ váy áo truyền thống cho mình, còn thì đi mua ở chợ cho phù hợp với sinh hoạt hằng ngày. Các loại ví, túi... dành để bán cho khách du lịch. Vậy nên, nghề này, nếu mong phục hồi, duy trì được, cần quan tâm phát triển du lịch. Có một thực trạng, giờ ở Tây Nguyên có khá nhiều nghề truyền thống cần có sự bảo tồn. Nhưng bảo tồn như thế nào trước thách thức của thị trường là việc không dễ giải quyết ngày một ngày hai. Trước hết, rất cần các nhà quản lý và hoạt động văn hóa nhận thức đúng đắn, phù hợp quy luật và phong tục tập quán của bà con. Thêm nữa là sự công tâm, tránh áp đặt quan điểm, ý thích của một vài cá nhân; tránh sự nhập nhằng dẫn đến đầu tư vô tội vạ, bất chấp hậu quả, dẫn đến không những không bảo tồn, phát triển được, mà còn làm biến tướng, hủy hoại văn hóa.

Dù còn gian nan, nhưng ít nhất, ở huyện Đác Đoa nói riêng và Tây Nguyên nói chung giờ vẫn còn khá nhiều người dân đang nắm giữ những tinh hoa của nghề dệt truyền thống Tây Nguyên. Và người dân Glar, dẫu là “làm thêm” cho chị Mlop, nhưng hầu như ai cũng cho rằng, có người như Mlop trong làng, dân được nhờ nhiều lắm! Ở làng, một đồng đã quý, huống gì có người thu nhập tiền triệu. Và quan trọng nữa, là góp phần gìn giữ nghề truyền thống không bị mai một.

Có thể bạn quan tâm