Quyết định 1266/QĐ-TTg ngày 18/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021-2030, định hướng đến năm 2050. Đặt mục tiêu chung cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng tiên tiến, hiện đại; sản phẩm có chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước; hạn chế xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều nguyên liệu, nhiên liệu là tài nguyên khoáng sản không tái tạo…
Nghị định 119/2025/NĐ-CP, ngày 9/6/2025 của Chính phủ quy định: Mục tiêu đến năm 2030, bằng nguồn lực trong nước, Việt Nam giảm ít nhất 15,03% lượng phát thải khí nhà kính trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng.
Thực tế, mỗi năm, nước ta có khoảng 35%-40% lượng khí nhà kính thải ra môi trường từ hoạt động xây dựng (chiếm khoảng 25% tổng lượng phát thải cả nước).
Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và vật liệu xây dựng Nguyễn Hữu Tuyến cho rằng, lượng khí nhà kính đối với ngành sản xuất vật liệu xây dựng xác định cần giảm bên cạnh hoạt động tự thân còn từ nguồn thứ phát gián tiếp do sử dụng điện, nhiệt để sản xuất.
Hiện nay, các hoạt động sản xuất vật liệu chủ yếu sử dụng nguồn than đốt tạo nhiệt. Số nhà máy sử dụng điện và ứng dụng công nghệ mới không nhiều do hạn chế về nguồn vốn đầu tư. Tuy nhiên, thời gian tới, áp lực giảm phát thải bắt buộc các nhà máy chuyển đổi là yêu cầu tất yếu.
Thực tế, mỗi năm, nước ta có khoảng 35%-40% lượng khí nhà kính thải ra môi trường từ hoạt động xây dựng (chiếm khoảng 25% tổng lượng phát thải cả nước).
Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Tâm, Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), nhu cầu vật liệu xây dựng của thị trường trong nước rất lớn cho nên các nhà máy, cơ sở sản xuất không thể không hoạt động. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường cũng như các quy định dưới luật khác, tất cả cơ sở đều phải tuân thủ thực hiện các biện pháp hạn chế khí nhà kính. Việc kiểm tra, giám sát sẽ được thực hiện ngày càng nghiêm ngặt.
Do vậy, các cơ sở sản xuất cần nắm rõ Luật và tìm hiểu, chuẩn bị các giải pháp công nghệ phù hợp. Thí dụ như trong sản xuất xi-măng, có thể tối ưu hóa quá trình đốt clinker; giảm tổn thất nhiệt lượng lò nung; thu hồi nhiệt thải; thay thế máy nghiền vật liệu phù hợp; tận dụng các chất thải trong quá trình sản xuất…
Các nhà khoa học hướng đến các giải pháp, nhóm giải pháp về khoa học-công nghệ, gồm: Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới; sử dụng, tái sử dụng chất thải công nghiệp; tối ưu hóa quy trình sản xuất; nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thu hồi các-bon. Nhóm giải pháp quản lý, tăng cường năng lực lao động, trong đó đầu tư nghiên cứu, ứng dụng các tiêu chuẩn về chất thải; vật liệu phát thải các-bon thấp; định mức tiêu hao năng lượng...
Bên cạnh các giải pháp công nghệ và giảm phát thải tự thân, các cơ sở sản xuất cần tìm hiểu và nắm rõ việc phân bổ hạn ngạch khí nhà kính, cơ chế mua bán, trao đổi, bù trừ, vay mượn, chuyển giao hạn ngạch tín chỉ các-bon trong nước và quốc tế để bảo đảm sản xuất và tránh các vướng mắc về pháp lý.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Lượng, Trường đại học Xây dựng
Nhóm giải pháp về tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức của người lao động về tiết kiệm năng lượng, thực hiện quy trình giảm phát thải… Nhóm giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế, đa phương đồng thời huy động, vận động thu hút các nguồn lực cả về tài chính và khoa học công nghệ trong và ngoài nước...
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Lượng, Trường đại học Xây dựng cho rằng, bên cạnh các giải pháp công nghệ và giảm phát thải tự thân, các cơ sở sản xuất cần tìm hiểu và nắm rõ việc phân bổ hạn ngạch khí nhà kính, cơ chế mua bán, trao đổi, bù trừ, vay mượn, chuyển giao hạn ngạch tín chỉ các-bon trong nước và quốc tế để bảo đảm sản xuất và tránh các vướng mắc về pháp lý.
Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy vai trò điều tiết và kiểm soát của nhà nước đối với ngành xây dựng vô cùng quan trọng. Nhật Bản đã thiết lập hệ thống thuế với riêng các doanh nghiệp công nghiệp có phát thải CO2 lớn; ban hành những quy định, hướng dẫn cụ thể buộc doanh nghiệp phải tính toán và báo cáo định kỳ lượng phát thải CO2; có cơ chế khuyến khích đổi mới, sáng tạo…
Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước cần sớm hoàn thiện thể chế chính sách; xây dựng, hoàn thiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường; xây dựng cơ chế kiểm soát khai thác, sử dụng tài nguyên hiệu quả, tiết kiệm, hình thành các mô hình kinh tế tuần hoàn, tận dụng tối đa chất thải cho ngành sản xuất khác; đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến khích đổi mới sáng tạo, nghiên cứu vật liệu thay thế…