Giải pháp phát triển ngành chè ở Yên Bái

Giải pháp phát triển ngành chè ở Yên Bái

Thế mạnh nhưng lực yếu

Hiện nay tổng diện tích chè ở Yên Bái có gần 12.500 ha, với 10.000 ha chè kinh doanh, đặc biệt Yên Bái có giống chè cổ thụ tuyết Shan ở xã Suối Giàng nổi tiếng khắp cả nước. Một số huyện ở Yên Bái có nhiều chè như huyện Văn Chấn 4.000 ha, huyện Trấn Yên 2.500 ha, huyện Yên Bình 2.000 ha, huyện Mù Căng Chải 1.700 ha. Toàn tỉnh có khoảng 30 nghìn người trực tiếp tham gia sản xuất chè và khoảng 150 - 170 nghìn người sống chủ yếu nhờ thu nhập từ cây chè.

Phần lớn diện tích chè trồng ở Yên Bái là giống chè trung du lá to, những năm gần đây đưa thêm giống chè LDP1 và LDP2 vào trồng; những giống chè này chỉ thích hợp sản xuất chè đen xuất khẩu. Tuy Yên Bái có diện tích chè lớn, nhưng năng suất thấp, mới đạt bình quân 55 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi năm 2004 đạt khoảng 55.000 tấn.

Trên địa bàn toàn tỉnh, có bảy doanh nghiệp nhà nước trồng và chế biến chè (đã có năm công ty cổ phần hóa). Trong đó có năm doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty chè Việt Nam. Các doanh nghiệp cổ phần hóa sản xuất chế biến chè quản lý 2.600 ha với gần 1.800 công nhân. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn khoảng 40 doanh nghiệp tư nhân tham gia chế biến chè và khoảng một nghìn hộ chế biến chè thủ công.

Sản phẩm chè chế biến ở Yên Bái là mặt hàng có khối lượng lớn, chiếm 13 - 14% giá trị sản xuất công nghiệp hằng năm. Năm 2004, giá trị hàng hóa xuất khẩu của tỉnh đạt 16,8 triệu USD, thì giá trị chè xuất khẩu chiếm khoảng 45%. Vì vậy, việc tăng, giảm sản lượng chè xuất khẩu sẽ quyết định chính đến tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.

Tình hình sản xuất, chế biến chè của các doanh nghiệp chè ở Yên Bái đang gặp rất nhiều khó khăn, chất lượng và uy tín chè Yên Bái đang bị giảm sút, nguyên nhân là:

- Thiết bị công nghệ chế biến chè của tỉnh hầu hết là cũ kỹ, lạc hậu; chủ yếu là sản xuất chè đen (chiếm tới 91% cơ cấu sản phẩm chè), đóng thùng to xuất khẩu, nói một cách khác vẫn là chè sơ chế để xuất sang các nước, họ tinh chế một lần nữa bán ra thị trường với giá cao hơn nhiều lần. Thị trường tiêu thụ chè mấy năm gần đây bị thu hẹp do sản phẩm đơn điệu, chất lượng thấp.

- Trên địa bàn Yên Bái có quá nhiều doanh nghiệp chế biến chè; tổng công suất của các doanh nghiệp chế biến chè đã gấp đôi khả năng cung cấp nguyên liệu chè búp tươi. Năm 2004, huyện Trấn Yên có sản lượng đạt 13.300 tấn, nhưng có tới 20 doanh nghiệp chế biến chè; ở tám xã vùng ngoài của huyện Văn Chấn, nơi Công ty cổ phần chè Trần Phú mua nguyên liệu thì có tới gần 30 cơ sở chế biến có công suất chế biến từ 5 - 20 tấn búp tươi/ ngày.

Việc có quá nhiều doanh nghiệp chế biến chè dẫn đến tranh mua, tranh bán nguyên liệu chè búp tươi. Người sản xuất nhân cơ hội này để ngọn chè thật dài mới hái để bán cho nặng cân; doanh nghiệp không mua vì phẩm cấp chè thấp, thì lập tức sẽ có ngay các thương lái chờ sẵn thu mua mang bán cho các doanh nghiệp tư nhân. Vô hình trung người làm chè tự phá tán cây chè của mình ngay trong chính vụ chè. Sự cạnh tranh trong thu mua nguyên liệu đã làm cho các công ty chè trung ương và của tỉnh thiếu nguyên liệu.

Công ty chè Yên Bái đặt ở trung tâm thành phố Yên Bái hầu như không có nguyên liệu để sản xuất. Công ty chè Trần Phú công suất chế biến 50 tấn búp tươi/ngày, nhưng nhiều ngày chỉ mua được 2-3 tấn/ngày. Mặc dù chỉ được vài tấn, các công ty vẫn phải đốt lò để sản xuất, dù biết thua lỗ (Công ty chè Trần Phú đốt lò như vậy sẽ lỗ tới 200%). Đặc biệt, một số giám đốc công ty chè lớn sau khi về hưu, lập tức xin thành lập cơ sở chế biến để cạnh tranh ngay với chính công ty mình quản lý trước đây.

Chính vì phần lớn các doanh nghiệp thua lỗ nên không được vay vốn ngân hàng để kinh doanh. Các doanh nghiệp sản xuất cầm chừng là do các khách hàng ứng trước một phần tài chính. Trong khi nhiều doanh nghiệp tư nhân không phải đầu tư gì cho vùng chè, mua trao tay nguyên liệu không cần hóa đơn chứng từ, mặt khác họ sản xuất theo thời  vụ chè nên thuê công nhân theo thời vụ "trốn" được một số nghĩa vụ với Nhà nước và người lao động. Đặc biệt là các hộ tư nhân chế biến chè thủ công để giảm chi phí nhiên liệu, phơi chè ra đường cái cho héo trước khi sao, mặc cho trâu bò, xe cộ đi qua, rất mất vệ sinh và hầu như các hộ này khi bán chè không phải chịu bất cứ loại thuế nào.

- Một số công ty chè sau cổ phần hóa, công nhân không gắn bó với công ty. Một số người bán chè cho tư thương, không bán cho chính nhà máy của mình. Do hiệu quả kinh doanh kém, các cổ đông là công nhân công ty đã bán cổ phần của mình cho những người ở ngoài tỉnh và một số bán thấp hơn mệnh giá cổ phiếu tới 30%. Công ty chè Nghĩa Lộ khi thực hiện cổ phần hóa có 398 cổ đông, toàn là công nhân công ty, thì đến nay số cổ đông là công nhân công ty chỉ còn 38 người. Công ty chè Trần Phú hiện chỉ còn 20% số cổ đông là công nhân của công ty. Có cổ đông là người ở Hà Nội đã mua cổ phiếu của hai công ty nói trên tới 1,8 tỷ đồng. Hiện nay, cổ đông lớn nhất của công ty chè trung ương đều là người của Tổng công ty chè Việt Nam, nắm giữ 51% cổ phần và giữ vị trí chủ tịch Hội đồng quản trị.

Qua khảo sát, các công ty cho biết: Sự đầu tư của Tổng công ty đối với doanh nghiệp chưa đáng kể, công ty vẫn bán chè cho Tổng công ty theo giá quy định và phải phụ thuộc rất nhiều vào cổ đông chiếm giữ 51% cổ phần. Tổng Công ty chè Việt Nam không đầu tư thì đến một thời điểm nào đó cổ đông đang có nhiều cổ phần bỏ vốn ra đầu tư và vượt quá 51% cổ phần mà Tổng Công ty chè Việt Nam đang nắm giữ, chắc lúc đó doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa sẽ trở thành doanh nghiệp tư nhân hóa.

Tám kiến nghị

Để cho ngành chè Yên Bái nói chung và các doanh nghiệp làm chè với truyền thống trên 40 năm tiếp tục đứng vững và phát triển, cần có những giải pháp tháo gỡ chính sau:

Một là, các doanh nghiệp chè phải tự đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ chế biến chè tiên tiến, từ chế biến chè thô nâng lên chế biến chè tinh để nâng cao giá trị sản phẩm chè. Tiến tới chấm dứt bán nguyên liệu thô ra nước ngoài. Các doanh nghiệp và người dân sản xuất chè phải có sự gắn bó, bảo đảm lợi ích của cả hai bên thì doanh nghiệp và người sản xuất nguyên liệu sẽ cùng tồn tại và phát triển. Các doanh nghiệp cần nghiên cứu liên doanh với nước ngoài để trồng và chế biến sản phẩm chè cao cấp để xuất khẩu.

Hai là, tuyên truyền vận động nhân dân hái chè đúng kỹ thuật để cây chè phát triển bền vững, cho năng suất ngày càng cao. Tập trung chỉ đạo quyết liệt và đầu tư cao hơn, đồng thời có cơ chế chính sách khuyến khích nông dân cải tạo diện tích chè già cỗi bằng giống chè nhập nội có chất lượng cao (có dự án cụ thể cho từng vùng).

Cây chè tuyết Shan được chỉ đạo trồng ở vùng cao, nhưng do trồng theo phong trào để hưởng dự án, người nông dân chưa thấy đó là việc thiết thực của bản thân, mặt khác, một số địa phương chưa chú ý đến kỹ thuật, nặng về thành tích nên hiệu quả rất thấp. Vì vậy, cần đổi mới cách làm, giao cho các lâm trường, các công ty chè làm chủ dự án đầu tư thì mới có hiệu quả.

Ba là, hạn chế cấp thêm giấy phép đăng ký kinh doanh chế biến chè; mặt khác, cần tiến hành, kiểm tra các doanh nghiệp, nếu không bảo đảm về thiết bị công nghệ, vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm thấp làm ảnh hưởng đến uy tín sản phẩm chè thì thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Bốn là,  thực hiện bình đẳng giữa các doanh nghiệp về nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước. Cơ quan thuế phối hợp chính quyền xã tăng cường thu thuế sản phẩm đầu vào chè búp tươi của các doanh nghiệp tư nhân. Đối với các hộ tư nhân chế biến chè thủ công, khi mang chè ra thị trường bán phải thu đúng, thu đủ thuế. Nghiêm cấm phơi chè búp tươi ra đường, vì chè là loại thực phẩm cần được kiểm tra gắt gao vệ sinh an toàn thực phẩm để bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng.

Năm là, cần tiến hành quy hoạch chi tiết về cơ sở chế biến chè trên địa bàn toàn tỉnh. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng diện tích chè nhập nội có chất lượng cao để sản xuất chè xanh tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Doanh nghiệp nào xin xây dựng cơ sở chế biến chè, thì đề nghị tỉnh giao đất trống cho doanh nghiệp trồng chè lấy nguyên liệu chế biến, hoặc để doanh nghiệp thỏa thuận với dân có đất và tổ chức dân trồng chè bán cho doanh  nghiệp.

Sáu là, các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng xem xét tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được vay vốn trồng chè giống mới, đầu tư công nghệ mới cho chế biến chè.

Bảy là, đã đến lúc các doanh nghiệp chè cần ngồi lại với nhau, chung lưng đấu cật (dưới dạng hiệp hội chè của tỉnh) để tăng khả năng hợp tác đầu tư, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh thị trường. Tỉnh cần nghiên cứu đầu tư để xây dựng cho được thương hiệu chè Yên Bái. Tỉnh cùng với các doanh nghiệp kiến tạo cho được thị trường tiêu thụ chè ổn định.

Tám là, Tổng Công ty chè Việt Nam cần quan tâm hơn nữa về thị trường tiêu thụ sản phẩm, đầu tư thiết bị công nghệ tiên tiến và lợi ích đối với các công ty thành viên.

TRẦN THI, MINH LÝ

Có thể bạn quan tâm