Khai thác tận diệt
Cách đây hơn mười năm, UBND tỉnh Cà Mau đã ban hành Quyết định nghiêm cấm khai thác thủy sản ven bờ đối với các nghề lưới đèn, cào mé, xiệp, te, lưới vây... Nghề khai thác ven bờ sát hại, tận diệt hầu hết tôm, cá non và việc cấm này được triển khai trong vùng biển có độ sâu 5-7 m nước để bảo vệ vùng sinh trưởng của các loài thủy sản. Gần đây, chủ trương này lại được chính quyền địa phương các huyện vùng biển tuyên truyền sâu rộng trong ngư dân. Kèm theo đó, ngành thủy sản có kế hoạch triển khai cho ngư dân chuyển đổi từ nghề khai thác ven bờ sang các nghề khác. Tuy nhiên, theo Chánh thanh tra ngành thủy sản Châu Văn Bằng, cho biết, đến nay, nghề khai thác ven bờ vẫn không giảm, ngược lại có chiều hướng tăng lên. Năm 2007, qua công tác thanh tra, kiểm tra, đã phát hiện và xử lý hơn 1.000 vụ vi phạm ngư trường khai thác; trong số này, có hàng trăm vụ khai thác bằng xung điện. Việc vi phạm không chỉ với ngư dân trong tỉnh, mà cả với ngư dân ngoài tỉnh. Nhất là, khi giá xăng dầu, chi phí tăng cao, nhiều ngư dân ngại ra khơi do sợ lỗ, nên chỉ hoạt động khai thác gần bờ.
Anh Nguyễn Hoàng Thiên, cán bộ phụ trách thủy sản của thị trấn Sông Ðốc bức xúc nói: Toàn thị trấn có gần 300/700 tàu cá loại nhỏ công suất dưới 20 CV, hoạt động ven bờ. Gần đây, các nghề khai thác ven bờ nở rộ trở lại; các cơ sở thu mua thủy sản mọc lên như nấm. Chợ thị trấn bày bán la liệt các loài cá con bé xíu, cá nhỏ, cá vụn gọi chung là cá tạp và bán xô cho các thương lái, cơ sở chế biến bột cá làm thức ăn chăn nuôi. Tuy chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng thị trấn Sông Ðốc được xem là đầu mối cung cấp nguồn tôm, cá tạp khai thác tận diệt lớn nhất, không những đối với Cà Mau mà cho cả các tỉnh lân cận. Hiện nay, nhiều chủ phương tiện làm nghề khai thác ven bờ đã và đang lén lút thu nhỏ dần kích thước mắt lưới nhằm khai thác triệt để. Nhiều chủ phương tiện cho rằng nghề khai thác này mang lại hiệu quả kinh tế thấp, thế nhưng chính họ đã và đang làm cho biển Cà Mau ngày càng nghèo kiệt thêm.
Tỉnh Cà Mau hiện còn gần 1.000 phương tiện có công suất máy từ 20 CV trở lại lén lút hoạt động với các nghề đã bị cấm khai thác. Nhiều nhân viên trong Ðội kiểm ngư cho rằng, bờ biển Cà Mau dài hơn 250 km, nhiều cửa biển, kênh rạch nhỏ chằng chịt thông ra biển, dụng cụ đánh bắt cào mé, xiệp, te, lưới vây khá đơn giản, gọn nhẹ cho nên khi khai thác thủy sản trái phép gần bờ bị tàu của Ðội kiểm ngư kiểm tra họ thường vứt bỏ số ngư cụ này xuống biển và chạy trốn vào các kênh rạch. Ðồng thời, không ít lần xảy ra tình trạng ngư dân chống đối nhân viên kiểm ngư đang làm nhiệm vụ.
Chi cục trưởng Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Cà Mau (BVNLTS) Ðỗ Chí Sỹ cho rằng: Cà Mau hiện có gần mười xã nằm dọc tuyến ven biển và các phương tiện tham gia khai thác thủy sản trái phép vẫn còn nhiều. Một trong những nguyên nhân khiến tình trạng này thời gian qua diễn biến phức tạp là do hầu hết các địa phương chưa làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương BVNLTS, phối hợp chiếu lệ và chủ yếu trông chờ vào lực lượng kiểm ngư. Tại cửa biển Khánh Hội, huyện U Minh, nơi tập trung khá nhiều phương tiện công suất nhỏ, nhiều ngư dân cho biết do đời sống khó khăn, họ thường xuyên tham gia khai thác thủy sản trái phép nhưng sẵn sàng chuyển đổi sang ngành nghề khác nếu Nhà nước và chính quyền địa phương có bước đi, giải pháp, cách làm cụ thể tạo công ăn việc làm mới ổn định cho họ... Ðiều này đã lý giải vì sao thời gian gần đây tình trạng khai thác thủy sản trái phép tăng mạnh trên vùng biển Cà Mau.
Giải pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Tỉnh Cà Mau hiện có hơn 3.550 phương tiện khai thác thủy sản, trong đó 530 chiếc đăng ký khai thác xa bờ có công suất máy từ 90 CV trở lên; số còn lại là phương tiện có công suất máy từ 90 đến nhỏ hơn 20 CV. Với ngư trường rộng hơn 80 nghìn km2, vào thời điểm mùa vụ, ngoài số tàu của tỉnh, còn có hơn 5 nghìn phương tiện từ các tỉnh ngoài vào khai thác. Số phương tiện này làm cho vùng biển Cà Mau trở nên quá chật hẹp và việc áp dụng đa dạng nghề khai thác đã làm cho sản lượng và chất lượng sản phẩm ngày càng giảm sút. Hiện nay, việc xử lý vi phạm vẫn là phạt hành chính, phạt thuế, trong khi cái lợi sát bên khiến nhiều ngư dân biết mình vi phạm nhưng vẫn lén lút hoạt động.
Việc nghiêm cấm các nghề khai thác ven bờ mang tính hủy diệt, sát hại nguồn lợi thủy sản là chủ trương đúng. Do đó, phải có sự phối hợp thống nhất giữa các địa phương và thực hiện đồng bộ các biện pháp hành chính. Tuy nhiên, xét cho cùng, đây vẫn là biện pháp tình thế nhằm lập lại trật tự trong khai thác thủy sản. Vấn đề chính là chưa chỉ ra được việc quy hoạch vùng, khu vực khai thác thiếu bài bản, bất cập ở nhiều khâu và từ đó gây khó khăn trực tiếp cho công tác bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản. Với ngư trường rộng lớn và gần 9 nghìn phương tiện trong, ngoài tỉnh thường xuyên hoạt động khai thác, trong khi cả tỉnh chỉ có hai tàu và vài cán bộ làm nhiệm vụ kiểm ngư khiến công tác bảo vệ ngư trường gặp không ít khó khăn.
Năm 2007, tỉnh Cà Mau đạt sản lượng khai thác thủy sản 300 nghìn tấn, tăng gần 5,5% so với năm 2006. Nhìn chung, sản lượng khai thác thủy sản hằng năm ở Cà Mau đều tăng, nhưng chất lượng sản phẩm luôn tỷ lệ nghịch với số lượng. Tập trung sức bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ, nhưng ở tuyến lộng có đến gần bảy nghìn phương tiện hoạt động quanh năm, đa dạng dụng cụ, đủ phương cách khai thác đã hình thành chiếc lưới khổng lồ giăng bủa bắt tôm, cá lớn, bé di chuyển từ ngoài khơi vào bờ sinh sản và ngược lại làm mất cân bằng sinh thái môi trường biển.
Ðể khôi phục tài nguyên biển, bảo vệ vùng sinh sản, sinh trưởng ven bờ của các loài thủy sản, ngành thủy sản Cà Mau đã phối hợp các huyện, xã vùng biển tuyên truyền cho ngư dân nắm vững chủ trương BVNLTS và phương hướng chuyển đổi nghề. Trước hết, làm tốt công tác quản lý gần 1.000 phương tiện có công suất máy từ 20 CV trở xuống, cho phép hộ ngư dân duy trì hoạt động khai thác trong thời gian một năm nữa, kể từ ngày đăng ký. Hiện có rất nhiều chủ phương tiện tự giác bỏ nghề cũ, thành lập tổ hợp tác sản xuất tôm giống, nuôi trồng thủy sản, vận chuyển hàng hóa...
Cà Mau đang khẩn trương tổ chức lại nghề cá xa bờ, áp dụng từng bước công nghệ đánh bắt tiên tiến, trên cơ sở điều tra, đánh giá diễn biến trữ lượng nguồn lợi thủy sản trên ngư trường. Sắp xếp, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề phù hợp, nhất là số phương tiện công suất nhỏ, giảm dần sức ép khai thác gần bờ theo hướng gắn với phát triển, nhân rộng các mô hình nuôi trồng thủy sản ven biển, cụm đảo. Ðào tạo nguồn nhân lực lao động biển, nhất là đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng, thuyền viên tàu cá; phổ biến kinh nghiệm bằng hình thức truyền nghề từ những người có kinh nghiệm nghề biển cho người chưa có hoặc ít kinh nghiệm. Quản lý chặt chẽ việc đóng mới, cấp phép khai thác tàu cá, tránh tình trạng ngư dân tự phát đóng mới tàu công suất nhỏ đánh bắt ven bờ; phân cấp cho huyện, xã quản lý phương tiện có công suất từ 20 CV trở xuống. Tài nguyên biển không phải là vô hạn, do vậy, cần nỗ lực bảo vệ để phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản.