Giải Nobel Hóa học 2006 vừa được trao cho Giáo sư Roger Kornberg người Mỹ với công trình nghiên cứu về cơ sở phân tử của sự sao chép eukaryotic trong tế bào.
Sao chép là một bước quan trọng trong quá trình theo đó các tế bào hình thành các protein từ DNA. Giáo sư Roger Kornberg, 59 tuổi, làm việc tại trường Y thuộc Đại học Stanford của Mỹ là người đầu tiên đưa ra hình ảnh thực sự của sự sao chép ở cấp độ phân tử, trong các eukaryote gồm có động vật, thực vật, nấm và các sinh vật đơn bào.
| Sinh vật nhân chuẩn (eukaryote), còn gọi là sinh vật nhân thực, sinh vật nhân điển hình hoặc sinh vật có nhân chính thức là một sinh vật gồm các tế bào phức tạp, trong đó vật liệu di truyền được sắp đặt trong nhân có màng bao bọc. Sinh vật nhân chuẩn gồm có động vật, thực vật và nấm - hầu hết chúng là sinh vật đa bào - cũng như các nhóm đa dạng khác được gọi chung là nguyên sinh vật (đa số là sinh vật đơn bào, bao gồm động vật nguyên sinh và thực vật nguyên sinh). Trái lại, các sinh vật khác, chẳng hạn như vi khuẩn, không có nhân và các cấu trúc tế bào phức tạp khác; những sinh vật như thế được gọi là sinh vật tiền nhân hoặc sinh vật nhân sơ (prokaryote). Sinh vật nhân chuẩn có cùng một nguồn gốc và thường được xếp thành một siêu giới hoặc vực (domain). Eukaryote là chữ Latin có nghĩa là có nhân thật sự. |
Các sinh vật này thường lớn gấp 10 lần (về kích thước) so với sinh vật tiền nhân, do đó gấp khoảng 1000 lần về thể tích. Điểm khác biệt quan trọng giữa sinh vật tiền nhân và sinh vật nhân chuẩn là tế bào nhân chuẩn có các xoang tế bào được chia nhỏ do các lớp màng tế bào để thực hiện các hoạt động trao đổi chất riêng biệt. Trong đó, điều tiến bộ nhất là việc hình thành nhân tế bào có hệ thống màng riêng để bảo vệ các phân tử DNA của tế bào.
Nghiên cứu của giáo sư Roger Kornberg mô tả cách thức thông tin được lấy từ gene và được chuyển đến các phân tử, sau đó các phân tử này sẽ chuyển thông tin đó đến bộ máy tạo ra portein của tế bào.
Khi thông báo giải thưởng, Viện hàn lâm khoa học Hoàng gia Thụy Điển cho biết: “Việc hiểu biết cách thức sao chép cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong y học. Những xáo động trong quá trình sao chép này có liên quan đến nhiều căn bệnh như ung thư, bệnh tim và nhiều chứng viêm khác”.
Trong cuộc trả lời phỏng vấn báo chí tại thủ đô Stockholm của Thụy Điển, giáo sư Kornberg nói: Khi tôi nhận được điện thoại thông báo đoạt giải, tôi hết sức xúc động. Tôi hy vọng tôi có thể sớm bình tĩnh trở lại”.
Ông Peter Fraser, đồng nghiệp của giáo sư Kornberg nói: “Nếu bí mật của cuộc sống có thể ví như một cỗ máy, thì quá trình sao chép sẽ là bánh răng trung tâm trong cỗ máy, giúp vận hành tất cả các bộ phận khác. Giáo sư Kornberg đã mang lại cho chúng ta một cái nhìn hết sức chi tiết về cỗ máy này”.
Giáo sư Roger Kornberg là người Mỹ thứ năm nhận giải Nobel trong mùa giải năm nay. Bố ông, ông Arthur Kornberg, đã cùng đoạt giải Nobel Y học vào năm 1959 với ông Severo Ochoa người Tây Ban Nha nhờ công trình nghiên cứu về cách thức thông tin di truyền được chuyển từ một phân tử DNA sang một phân tử khác.
Đến nay, hai cha con ông Kornberg là cặp cha con thứ sáu đã từng đoạt giải Nobel.
Đoạt giải Nobel Hóa học, giáo sư Roger Kornberg được nhận 10 triệu krona Thụy Điển (tương đương 1,37 triệu USD).