Giá tính lệ phí trước bạ đối với xe môtô

Hỏi: Xin cho biết giá tính lệ phí trước bạ áp dụng đối với xe môtô dựa trên căn cứ mức giá nào (đối với cả loại xe sản xuất trong nước và xe nhập khẩu) vì thực tế nhiều cửa hàng bán xe máy ghi hóa đơn thấp hơn so với giá mà khách hàng thực mua.

Trả lời: Về giá tính lệ phí trước bạ đối với xe môtô sản xuất, lắp ráp trong nước: Theo quy định tại Điểm 3.1 Mục I Phần II, Thông tư số 95/2005/TT-BTC (26/10/2005) của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về lệ phí trước bạ thì: Tài sản mua trực tiếp của cơ sở được phép sản xuất, lắp ráp trong nước (gọi chung là cơ sở sản xuất) bán ra hoặc mua của các đại lý bán hàng trực tiếp ký hợp đồng đại lý với cơ sở sản xuất và bán đúng giá của cơ sở sản xuất quy định thì giá tính lệ phí trước bạ là giá thực tế thanh toán (giá bán bao gồm cả thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt – nếu có) ghi trên hóa đơn bán hàng hợp pháp.

Trường hợp này, cơ sở sản xuất phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thuế địa phương nơi đại lý bán hàng về giá bán của từng loại hàng thuộc loại tài sản chịu lệ phí trước bạ trong từng thời kỳ. Cơ quan thuế đối chiếu giữa giá bán ghi trên hóa đơn bán hàng của đại lý xuất cho khách hàng với giá bán theo thông báo giá của cơ sở sản xuất, nếu phù hợp thì tính lệ phí trước bạ theo giá thực tế thanh toán.

Trường hợp giá bán hàng ghi trên hóa đơn bán hàng của đại lý xuất cho khách hàng thấp hơn giá bán hàng do cơ sở sản xuất thông báo thì được xác định theo bảng giá tối thiểu tính lệ phí trước bạ do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định.

Về giá tính lệ phí trước bạ đối với xe môtô nhập khẩu: Tại Điểm 3.5 Mục I Phần II Thông tư số 95/2005/TT-BTC quy định: đối với tài sản không xác định được giá trị thực tế chuyển nhượng hoặc kê khai giá trị thực tế chuyển nhượng thấp hơn giá thị trường thì áp dụng bảng giá tính lệ phí trước bạ do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại thời điểm trước bạ.

Trường hợp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng chưa quy định giá tính lệ phí trước bạ đối với tài sản đó, thì áp dụng theo giá thị trường của loại tài sản tương ứng, hoặc xác định bằng (=) giá nhập khẩu tại cửa khẩu (CIF), cộng (+) thuế nhập khẩu, cộng (+) thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), cộng thuế GTGT theo chế độ quy định đối với loại tài sản tương ứng (không phân biệt đối tượng phải nộp hay được miễn nộp thuế ở khâu nhập khẩu).

 ----------------------

 Bán hàng không có hóa đơn

Hỏi: Trường hợp cơ sở kinh doanh đang trong thời gian bị đình chỉ sử dụng hóa đơn vẫn phát sinh hoạt động kinh doanh mua, bán hàng hóa nhưng không có hóa đơn GTGT khi xuất bán hàng hóa thì đối với số hàng hóa bán ra này, cơ sở kinh doanh cần phải làm gì?

Trả lời: Căn cứ theo quy định tại Điều 18 Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9 (10/5/1997) và Điều 16 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11 thì trường hợp cơ sở kinh doanh đang trong thời gian bị đình chỉ sử dụng hóa đơn vẫn phát sinh hoạt động kinh doanh mua, bán hàng hóa nhưng không có hóa đơn GTGT khi xuất bán hàng hóa và đối với số hàng hóa bán ra này, cơ sở kinh doanh vẫn lập tờ khai thuế GTGT; bảng kê hàng hóa, chứng từ hàng hóa, dịch vụ bán ra số 02/GTGT (không kê khai số hóa đơn) đồng thời Cục thuế xem xét ấn định số thuế GTGT và thu nhập chịu thuế để tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp đối với cơ sở kinh doanh.

 ---------------------

Thế nào là “việc dân sự” ?

Hỏi: Khi tôi làm đơn khởi kiện dân sự gửi tới TAND thì được hướng dẫn làm đơn yêu cầu tòa án giải quyết “việc dân sự”, không phải là khởi kiện vụ án dân sự. Đề nghị quý báo cho biết thế nào là “việc dân sự”, những sự việc nào thì đương sự cần làm đơn yêu cầu tòa án giải quyết việc dân sự?

Trả lời: Căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004), đương sự có quyền khởi kiện để tòa án giải quyết các vụ án dân sự  và quyền yêu cầu để tòa án giải quyết các việc dân sự.

Vụ án dân sự là các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Cụ thể, những yêu cầu về việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án bao gồm: yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hoặc yêu cầu hủy bỏ các quyết định trên; yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó; yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc hủy bỏ quyết định đó; yêu cầu tuyên bố một người là đã chết hoặc hủy bỏ quyết định đó; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của tòa án nước ngoài hoặc không công nhận, không cho thi hành tại Việt Nam các bản án, quyết định đó.

Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án gồm các yêu cầu: hủy việc kết hôn trái pháp luật; công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn; chấm dứt việc nuôi con nuôi; công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của tòa án nước ngoài hoặc không công nhận, không cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định đó.

Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án gồm yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của tòa án nước ngoài hoặc không công nhận,  không cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định đó; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của trọng tài nước ngoài.

Những yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án gồm yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định lao động của tòa án nước ngoài hoặc không công nhận, không cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định lao động của tòa án nước ngoài; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định lao động của trọng tài nước ngoài.

Như vậy, khi muốn tòa án giải quyết một trong những việc trên, công dân phải làm “Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự” gửi tới TAND có thẩm quyền.  

----------------------

Nghĩa vụ nộp chi phí định giá

Hỏi: Đề nghị cho biết hiện nay pháp luật quy định như thế nào về nghĩa vụ nộp tiền chi phí định giá. Trong trường hợp định giá để chia tài sản chung, thì việc nộp tiền chi phí định giá như thế nào?

Trả lời: Theo Điều 142 Bộ luật Tố tụng Dân sự về nghĩa vụ nộp tiền chi phí định giá, thì trong trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác thì nghĩa vụ nộp tiền chi phí định giá được xác định như sau:

1. Người yêu cầu định giá phải nộp tiền chi phí định giá, nếu kết quả định giá chứng minh yêu cầu của người đó là không có căn cứ;

2. Người không chấp nhận yêu cầu định giá phải nộp chi phí định giá nếu kết quả định giá chứng minh yêu cầu của người yêu cầu định giá là có căn cứ;

3. Trong trường hợp các bên không thống nhất được về giá mà yêu cầu Tòa án định giá thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa số tiền chi phỉ định giá;

4. Trong trường hợp Tòa án ra quyết định định giá quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 của Bộ luật này (Bộ luật Tố tụng Dân sự) thì:

a. Mỗi bên đương sự phải nộp một nửa số tiền chi phí định giá nếu kết quả định giá chứng minh quyết định định giá của Tòa án là có căn cứ;

b. Tòa án trả chi phí định giá nếu kết quả định giá chứng minh quyết định định giá của Tòa án là không có căn cứ;

5. Trong trường hợp định giá để chia tài sản chung thì mỗi người đọc chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá theo tỷ lệ giá tri Phần tài sản mà họ được chia.

Như vậy theo quy định trên đây, trong trường hợp định giá để chia tài sản chung thì việc nộp tiền chi phí định giá được tính theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà mỗi người được hưởng sau khi chia.

----------------------

Hành vi săn bắn, giết hại động vật hoang dã có bị xử lý hình sự?

Hỏi: Hiện nay tình trạng săn bắn, giết hại động vật hoang dã, quý hiếm diễn ra rất phổ biến. Thông thường những vụ bị phát hiện chỉ bị xử phạt hành chính do đó không đủ nghiêm khắc để ngăn chặn tình trạng trên. Đề nghị cho biết hành vi vi phạm trên có bị xử lý về hình sự không?

Trả lời: Theo Điều 190 Bộ luật Hình sự về tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm như sau:

1. Người nào săn bắn, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ, hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm của loại động vật đó thì bị Phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:

- Có tổ chức;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

- Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắn bị cấm;

- Săn bắn trong khu vực bị cấm;

- Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 20 triệu đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Như vậy, pháp luật hình sự nước ta đã có điều luật quy định các hình thức xử phạt đối với các hành vi săn bắn, giết hại động vật hoang dã quý hiếm nhằm bảo vệ sự tồn tại của các loài động vật quý hiếm đang có nguy cơ đe dọa bị diệt chủng bởi các hành vi vi phạm của con người.

Có thể bạn quan tâm