Gặp hai đội viên của Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân

Ông Bế Kim Anh.
Ông Bế Kim Anh.

Người thứ nhất là cụ Bế Kim Anh. Cụ Bế Kim Anh là đội viên duy nhất của Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân hiện còn sống ở Cao Bằng. Khi chúng tôi đến gặp cụ thì cụ đang nằm ở trạm xá tỉnh đội. "... Hôm đó, vũ khí chỉ có hai khẩu súng thập, 17 súng trường và 14 súng kíp. Diễn từ mà đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc hôm đó rất dài nhưng mọi người lại rất nhớ vì nó rất văn chương, lại động chạm tới tâm can của mỗi người. Thế là từ giờ phút này trở đi, chúng ta cùng nhau tiến lên trên con đường vũ trang tranh đấu. Bao nhiêu oán hờn của dân tộc, bao nhiêu sự tàn khốc thê thảm đang chờ một cuộc thanh toán. Chúng ta nguyện đem xương và máu để làm việc đó. Từ giờ phút này, các đồng chí sẽ noi theo ngọn cờ mà tiến lên trên con đường máu. Chúng ta tiến mãi cho đến ngày giải phóng toàn dân... Ðêm hôm đó, một vài đống lửa được nhóm lên, từng tiểu đội thay nhau đứng gác dưới cờ, tâm niệm 10 lời thề danh dự. Ðó là đêm đầu tiên Ðội thể hiện ý thức tổ chức kỷ luật và sự rèn luyện, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn của một quân đội cách mạng. Có lẽ đêm ấy không ai ngủ được...". Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu từ những lời kể trên của cụ Bế Kim Anh. Tôi hỏi cụ:

- Tại sao cấp trên lại chọn cụ đứng vào hàng ngũ 34 chiến sĩ đầu tiên ấy, trước đó cụ đã hoạt động ở đâu và có chút kiến thức quân sự nào chưa?

Cụ Bế Kim Anh kể:

- Thời nhỏ tôi sống cơ cực lắm, sáng làm nương rẫy, chiều vào rừng hái măng, tìm củ, đốn củi. Lớn lên tôi tham gia phong trào thanh niên phản đế, bị bắt, rồi lại thả. Sau đó được tổ chức cử sang Trung Quốc học một khóa quân sự cùng với 70 người nữa. Sau ba năm tôi về nước, tham gia hoạt động trong đội vũ trang địa phương. Sau này khi có chủ trương thành lập Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, những hạt nhân của các đội vũ trang địa phương. Cấp trên đã chọn tôi.

Quay sang trận đánh đồn Phai Khắt, tôi thưa với cụ rằng, cứ tưởng cái đồn ấy nó nằm ở trên đồi cao chứ hóa ra nó lại nằm giữa bản làng, xung quanh là nhà dân. Cụ Bế Kim Anh bảo:

- Ðồn đó vốn là nhà ông Nông Văn Lạc, xây năm 1940, đến năm 1944 bị địch chiếm lấy làm đồn. Ðịch bố trí ở đấy một trung đội lính dõng do một tên cai người Pháp chỉ huy. Khi đã nắm chắc địch tình, Ðội quyết định đánh đồn Phai Khắt. Ta bắt sống toàn bộ đám lính dõng, bắn chết tên cai Pháp. Hôm sau đi xuyên qua rừng, lấy vũ khí và quần áo của địch thu được ở đồn Phai Khắt đóng giả địch lừa đánh chiếm luôn đồn Nà Ngần cách đó khoảng 15 km. Hầu hết đám lính đều sợ chết và xin tha mạng, ta cũng tha cả sau khi đã giáo dục chúng cải tà quy chính, có hai tên ở xa nhất, mãi tận Hà Ðông, đồng chí Văn (Ðại tướng Võ Nguyên Giáp) chỉ thị cho mỗi tên một đồng bạc để chúng có tiền làm lộ phí mà về quê hương bản quán.

- Thưa cụ, sau hai trận đánh nổi tiếng đó, cụ tiếp tục đến công tác ở đơn vị nào?

- Chúng tôi hành quân về Tân Trào rồi anh Văn cử tôi xuống Bắc Giang liên lạc với anh Châu để củng cố tổ chức ở dưới đó, nhưng về đến nơi thì anh Châu đã bị địch bắt, tôi liền xuống khu Ba hoạt động cùng anh Hoàng Sâm một thời gian rồi về lại Cao Bằng. Sau này tôi chuyển công tác ra ngoài quân đội.

- Thưa, thế còn chuyện gia đình, cụ cứ đi miết như thế?

- Tôi lấy vợ muộn. Hiện tôi sống với người con nuôi. Nói chung tôi rất thích núi rừng nhưng về già lại phải sống xa núi. Các anh ở trên tỉnh rất quan tâm chăm sóc cho tôi. Bây giờ già rồi, bệnh tật nhiều, thường xuyên phải làm khách của trạm xá tỉnh đội.


Ông Tô Văn Cắm.

Hỏi chuyện cụ về những người đồng đội cũ trong Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân năm xưa, cụ nhớ được khá nhiều người nhưng đa số đều đã qua đời cả rồi, chỉ còn vài ba người thôi. Theo lời cụ, chúng tôi quyết định vào Lâm Ðồng tìm gặp một đồng đội cũ của cụ - cụ Tô Văn Cắm.

Cụ Tô Văn Cắm vào sống với con cháu ở huyện Ðạ Tẻh (Lâm Ðồng) từ những năm 1990. Khi chúng tôi đến cụ vẫn đang làm cỏ ở vườn tiêu bên nhà. Cụ đã bước sang tuổi 82 nhưng sắc diện còn tốt, vẫn "ngậm cần rượu với thanh niên trong buôn suốt tối được". Tôi hỏi cụ từ ngày vào đây đã có dịp nào về lại Cao Bằng chưa? Cụ lắc đầu. Cụ Cắm sinh ra và lớn lên ở bản Nen, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, được giác ngộ rồi tham gia hoạt động trong phong trào Việt Minh từ năm 1941, đến năm 1944 thì có mặt trong lễ thành lập Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Cụ bảo: "Ðể bảo đảm hậu cần cho Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Bác Hồ đã quyết định trích 500 đồng tiền Ðông Dương từ trong quỹ Ðảng. Số tiền ấy đồng chí Vũ Anh chuyển cho đồng chí Lộc Văn Lùng quản lý lo chi tiêu cho Ðội. Chính hai đồng bạc ta cấp cho hai tên lính ở Hà Ðông là tiền lấy từ số đó. Chính sách khoan dung đối với tù hàng binh đã được quân đội ta thực hiện ngay từ ngày ấy".

Tôi hỏi: "Sau hai trận Phai Khắt, Nà Ngần cụ theo Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tiến đến đâu?".

Cụ Tô Văn Cắm bảo: "Tiến vào tận đến miền tây Nam Bộ". Rồi cụ kể, sau khi đánh trận Ðồng Mu thì cụ được phân công tham gia vào đoàn quân Nam Tiến. Sau đó cụ về nhận công tác ở một đơn vị pháo binh, cơ động từ Lạng Sơn đến Bắc Cạn. Khi đóng quân ở Bắc Cạn, anh lính pháo binh Tô Văn Cắm quen và yêu một cô gái công tác ở Hội phụ nữ tỉnh, sau đó họ lấy nhau. Hòa bình lập lại cụ chuyển ra ngoài công tác ở ngành thuế. "Ðường binh nghiệp có thế thôi, khi ra quân là trung đội trưởng", cụ Tô Văn Cắm vừa cười vừa nói.

Tôi nhìn cơ ngơi của cụ, hai héc-ta vườn với tiêu, mít, xoài, đu đủ cùng hệ thống chuồng trại, ao cá bỗng thấy quả là cụ đã biết tìm đúng nơi, đúng chốn để lui về an nghỉ tuổi già.

Tôi thưa với cụ rằng, cụ là một trong số những người hanh phúc nhất trần gian, thời trai trẻ được sống và chứng kiến những sự kiện trọng đại của dân tộc, của quân đội, về già lại được sống thanh thản với người bạn đời, giữa cháu con và dân bản, thật chẳng còn gì để ao ước hơn nữa!

Nghe tôi nói vậy cụ chỉ cười.

Có thể bạn quan tâm