Cách đây 9 năm, năm 1998, cả thế giới kỷ niệm 100 năm ngày tìm ra hiện tượng phóng xạ tự nhiên. Ở nước ta, lễ kỷ niệm đã được tổ chức trọng thể cùng với một cuộc hội thảo khoa học và một cuộc triển lãm về những thành tựu khoa học kỹ thuật hạt nhân trên thế giới và trong nước.
Trong đoàn các nhà khoa học Pháp sang tham dự lễ kỷ niệm và hội thảo khoa học, có bà Helen Joliot, cháu ngoại của ông bà Pierre và Marie Curie (được tặng giải thưởng Nobel năm 1903, riêng bà Marie Curie được tặng giải thưởng Nobel lần thứ hai năm 1911), con gái đầu lòng của ông bà Frederic và Irene Joliot Curie (con rể và con gái của ông bà Pierre và Marie Curie, cũng được tặng giải thưởng Nobel năm 1935 vì đã tìm ra hiện tượng phóng xạ nhân tạo).
Bà Helen Joliot sinh năm 1927, bảo vệ luận án tiến sĩ Nhà nước về ngành vật lý hạt nhân năm 29 tuổi, đã từng là Chủ tịch Hội đồng Vật lý hạt nhân của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp, Chủ tịch Hội Vật lý Pháp. Tôi có may mắn được cùng làm việc với bà trong suốt thời gian bà ở Hà Nội; phiên dịch cho bà trong buổi hội thảo khoa học, đưa bà đến thăm Trường trung học Marie Curie và thăm Bệnh viện K, trước kia là Viện Radium Hà Nội được thành lập vào năm 1923. Ở đây bà đã vô cùng xúc động nhìn lại những bản chứng chỉ đã ố vàng ghi hoạt tính phóng xạ của từng chiếc kim radi do Viện Radium Paris gửi sang, mỗi bản đều có mang chữ ký bằng mực xanh của bà Marie Curie, lúc ấy là Giám đốc Viện Radium Paris.
Những ngày đầu tháng 6-2007 vừa qua tôi lại được gặp gỡ tại Hà Nội với một người cháu ngoại khác của bà Marie Curie, là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp Pierre Joliot Curie, em ruột của bà Helen Joliot. Ông là con trai của Frederic Joliot Curie, nổi tiếng không những là một nhà bác học đã từng được tặng giải thưởng Nobel mà còn là một ngọn cờ của tri thức thế giới đấu tranh cho hòa bình và tiến bộ xã hội, trên cương vị Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới và Chủ tịch Liên đoàn thế giới những người làm công tác khoa học.
Viện sĩ Pierre Joliot Curie sinh năm 1932, năm 1956 bắt đầu nghiên cứu khoa học trong ngành sinh học. Trong buổi nói chuyện tại Trung tâm văn hóa Pháp vào tối 5-6-2007, ông đã nói rằng trong suốt thời gian hơn nửa thế kỷ qua ông đã không ngừng say mê nghiên cứu và niềm say mê ấy không vì tuổi già mà giảm đi, trái lại đã tăng lên theo năm tháng. Năm 2002 ông đã cho xuất bản một cuốn sách nhan đề "Say mê nghiên cứu". Năm 1974, ở tuổi 42, ông được cử làm giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp. Năm 1980 ông được nhận Huy chương vàng của Trung tâm này. Ông cũng đã được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh. Hiện nay ông là Giáo sư danh dự của trường Ðại học Sorbonne ở Paris và là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp.
Trong thời gian ở thăm Việt Nam, viện sĩ Pierre Joliot Curie đã làm việc với Bộ Giáo dục và Ðào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam để giới thiệu những kinh nghiệm của nước Pháp trong việc cải cách nền giáo dục tiểu học qua phong trào "Bàn tay nặn bột" do Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp Georges Charpak (được giải thưởng Nobel Vật lý năm 1992) khởi xướng và được sự bảo trợ của Viện Hàn lâm khoa học Pháp. Năm học 1996-1997 Bộ Quốc gia giáo dục Pháp cho phép tiến hành thí điểm trong 92 lớp tiểu học.
Năm học 1998-1999, con số đã lên đến 2.900 lớp. Bắt đầu từ ngày khai trường năm học 2002 công cuộc cải cách giáo dục tiểu học theo phương pháp "Bàn tay nặn bột" đã được mở rộng cho toàn bộ các trường tiểu học trên lãnh thổ nước Pháp.
Cách đây gần mười năm, vào tháng 11-1997 tôi được Trường đại học Quốc gia Hà Nội mời tham gia tổ chức và dịch cho lớp học nâng cao cho cán bộ giảng dạy vật lý trong cả nước, nhân Hội nghị thượng đỉnh khối Pháp ngữ họp ở Hà Nội. Sau khi dịch cho giáo sư Pierre Léna, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp, ông có tặng tôi một cuốn sách nhan đề "Bàn tay nặn bột - Khoa học ở nhà trường tiểu học" do ông chủ biên với lời giới thiệu của viện sĩ Georges Charpak. Tôi đã dịch ra tiếng Việt và cuốn sách đã được Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1999. Viện sĩ Pierre Léna đã viết bài tựa cho lần xuất bản đầu tiên ở Việt Nam, trong ấy có đoạn như sau:
"Tôi đến Việt Nam lần đầu thời gian không lâu nhưng cũng cảm nhận được ở đấy trường tiểu học quan trọng như thế nào đối với tương lai của đất nước. Do điều kiện đất nước các bạn, sự tiếp xúc với thiên nhiên của trẻ em học sinh Việt Nam còn dễ trực tiếp hơn học sinh ở Pháp, đây là điều thuận lợi. Giáo dục khoa học ở bậc tiểu học không đòi hỏi dụng cụ phức tạp đắt tiền: mấy ống tre, ánh nắng mặt trời, những bông lúa..., bằng ấy cái cũng đủ, chỉ cần người thầy có tâm huyết và được huấn luyện một thời gian ngắn".
Ta có thể hiểu bốn chữ "Bàn tay nặn bột" qua một hình ảnh như sau: một nhóm các em nhỏ tám tuổi quây quần quanh mấy chậu thau nước để tìm hiểu xem tại sao đồ vật lại nổi được trên mặt nước. Chúng thả xuống nước nhiều đồ vật. Một em nói: "Ðồ vật nặng thế nào cũng chìm". Một em khác liền bảo: "Sai, chiếc tàu thủy rất nặng sao cũng nổi?". Chúng bèn lấy bột dẻo nặn một chiếc tàu thủy. Bé Rô-banh đập bột dẹt ra trong lòng bàn tay, uốn các mép cong lên. Bé thả xuống nước và reo lên: "Tớ hiểu rồi ! Tớ hiểu rồi !" Như vậy là em bé Rô-banh bảy tuổi đã tự mình tìm hiểu được định luật Archimedes mà nếu giảng cho em thì ở tuổi của em chẳng thể nào hiểu được.
Cái cốt lõi của phương pháp "Bàn tay nặn bột" là: tăng cường giáo dục khoa học ở trường tiểu học không phải bằng máy móc đắt tiền mà bằng những vật dụng hằng ngày đơn giản, dễ kiếm, tập cho các em gần gũi với thiên nhiên, rèn luyện cho các em óc tò mò, sáng tạo, tự tìm đến với các quy luật vật lý, các chân lý khoa học.
Phong trào "Bàn tay nặn bột" ở Pháp không những được sự ủng hộ mạnh mẽ của Bộ Quốc gia giáo dục mà còn được sự bảo trợ của Viện Hàn lâm khoa học. Các nhà khoa học hàng đầu ở Pháp đang hết sức quan tâm đến việc đổi mới việc giảng dạy khoa học ở trường tiểu học nhằm bảo đảm cho các em sau này trở thành những nhà khoa học giỏi, những công dân tốt.
Viện sĩ Pierre Joliot Curie sang Việt Nam mang đến cho chúng ta những kinh nghiệm quý báu của công cuộc cải cách giáo dục ở Pháp cùng với những tình cảm hữu nghị của các nhà khoa học và nhân dân Pháp đối với các nhà khoa học và nhân dân Việt Nam.