Từ 1-5-2004, EU nâng tổng số thành viên lên 25 nước (EU25), với 450 triệu người, có thu nhập bình quân đầu người được xếp vào loại cao của thế giới.
Trong nhiều thập niên qua, quan hệ chính trị và ngoại giao giữa Việt Nam với EU 15 đang trong thời kỳ phát triển. Phần lớn các nước thành viên EU mới quan hệ gần gũi, chặt chẽ với Việt Nam trong Hội đồng Tương trợ kinh tế trước đây. Sau khi EU mở rộng lần thứ năm, các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam tiếp tục được hưởng thuế ưu đãi GSP không phải ở 15 nước mà ở 25 nước.
Những thành viên mới thực hiện biểu thuế nhập khẩu chung của EU, nhìn chung thấp hơn mức thuế cũ. Trước đây, thuế nhập khẩu hàng công nghiệp vào các nước Trung và Ðông Âu (CEEC) là từ 0 đến 42%, mức trung bình là khoảng 10 - 12% trong khi thuế nhập khẩu của EU15 là từ 0 đến 36,6%, với mức trung bình đối với hàng công nghiệp là 4,1%. Tuy nhiên, một số sản phẩm nông nghiệp vào EU lại có mức thuế quan cao hơn vào CEEC. Song, những mặt hàng có mức thuế vào EU cao hơn vào CEEC thì Việt Nam lại chưa có điều kiện xuất khẩu như sữa và sản phẩm sữa, trứng và thịt gia cầm. Hoặc một số sản phẩm EU áp dụng hạn ngạch như đường, chuối,... thì những mặt hàng này Việt Nam chưa có đủ khả năng xuất khẩu.
Ngoài ra, khi luật lệ EU mở rộng ổn định hơn, thống nhất hơn, các doanh nghiệp có thể lập kế hoạch kinh doanh, đầu tư, hợp tác kinh tế thuận lợi hơn, nhất là việc thanh toán các hợp đồng ngoại thương với khu vực Ðông Âu sẽ bảo đảm hơn theo thông lệ quốc tế. Ðồng thời, sẽ có thể dùng một đồng tiền được tính toán và thanh toán trong toàn khu vực là đồng euro. Ðiều này tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện hợp đồng, giảm chi phí, giấy tờ hải quan do khi hàng hóa đã thông quan ở bất kỳ cảng nào thuộc khu vực sẽ được di chuyển khắp lãnh thổ cộng đồng theo hình thức vận tải nội địa.
Một EU mở rộng có tầng lớp giàu nghèo đa dạng hơn nên nhu cầu tiêu dùng phong phú hơn. Khi gia nhập EU, 10 nước thành viên mới sẽ được các nước thành viên cũ hỗ trợ nhiều hơn. Giai đoạn từ 2002 đến 2006, EU chi khoảng 70 tỷ euro, trong đó 29 tỷ hỗ trợ cho những chương trình trước khi hội nhập và 41 tỷ cho những chương trình sau khi hội nhập. Việc đổi mới cơ cấu kinh tế sẽ giúp họ phát triển nhanh hơn, đa dạng hơn sẽ tạo ra nhu cầu mới lớn hơn, phong phú hơn không những về vốn, công nghệ và các nhu cầu phát triển kinh tế.
Quan hệ bạn hàng trước đây của Việt Nam với các nước thành viên EU mới sẽ có điều kiện được khôi phục và phát triển trở lại khi tình hình kinh tế của các nước này được cải thiện.
Việt Nam có thể sử dụng những thị trường của các thành viên mới như là thị trường kết nối để tiếp cận và mở rộng sang thị trường EU15, nhất là vào các kênh phân phối và hệ thống bán lẻ trong cộng đồng. Ngoài ra, EU mở rộng cũng tạo ra tiềm năng phát triển đầu tư, thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ như du lịch, lao động của các doanh nghiệp Việt Nam sang EU, trước mắt là sang các nước Trung và Ðông Âu, tạo thành thị trường trung chuyển và là bàn đạp để kết nối với thị trường nội địa rộng lớn của EU nhờ quan hệ bạn hàng khá tốt của nhiều doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác ở khu vực này. Hơn nữa, các doanh nghiệp người Việt Nam tại Ðông Âu cũng sẽ góp phần không nhỏ vào việc tăng cường hợp tác, quảng bá và tiếp thị những hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam trên lãnh thổ cộng đồng.
Với cơ cấu kinh tế có khả năng bổ sung cho nhau, môi trường quốc tế thuận lợi, xu hướng tự do hóa thương mại, khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế và những nỗ lực của cả hai phía, hoạt động thương mại của Việt Nam với khu vực thị trường EU mở rộng này sẽ nhộn nhịp hơn, sẽ có bước chuyển biến và phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Tuy nhiên, song song với những ảnh hưởng thuận lợi nêu trên, việc mở rộng EU sang phía Trung và Ðông Âu có thể sẽ đặt ra nhiều thách thức cho quá trình phát triển và mở rộng quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam với khu vực thị trường rộng lớn này. Bởi lẽ, chương trình mở rộng giao lưu hàng hóa của EU, với nội dung là đẩy mạnh tự do hóa thương mại thông qua việc giảm dần thuế quan, tăng cường sử dụng các công cụ phi thuế hợp lệ như rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn vệ sinh, bảo vệ môi trường,... trong quản lý nhập khẩu, tăng dần các điều kiện được hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), tiến dần tới việc bãi bỏ ưu đãi GSP để các sản phẩm từ mọi xuất xứ được cạnh tranh bình đẳng trong cùng điều kiện của thương mại quốc tế có thể sẽ gây khó khăn cho hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường EU - được xem là một chiến trường cạnh tranh cao về hàng hóa cũng như dịch vụ. Nhiều mặt hàng, nhất là hàng dệt may của các nước thành viên WTO, đặc biệt là Trung Quốc, sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn hàng hóa Việt Nam. Hiệp định ATC kết thúc vào 31-12-2004 dỡ bỏ hạn ngạch dệt may giữa các nước thành viên WTO trong khi Việt Nam vẫn có thể còn bị áp dụng hạn ngạch do chưa là thành viên của tổ chức này.
Giao lưu thương mại giữa Việt Nam với Ðông Âu lâu nay bằng nhiều hình thức khác nhau phù hợp điều kiện của cả hai phía, chủ yếu bằng hình thức tiểu thương gia đình của cộng đồng Việt kiều. Khi là thành viên chính thức của EU, những nước này buộc phải thực hiện theo cơ chế và chính sách thương mại của EU, vì vậy những hình thức buôn bán tiểu thương sẽ không thể tồn tại, mà phải thực hiện theo luật pháp và thông lệ của EU nói riêng và thông lệ quốc tế nói chung. Thêm nữa, khi gia nhập EU, toàn bộ những cam kết thương mại song phương giữa Việt Nam với các thành viên mới bị hủy bỏ, thay vào đó là cơ chế quan hệ chung với EU hiện nay. Vì vậy những doanh nghiệp Việt Nam chỉ quen quan hệ với khu vực Ðông Âu chưa hiểu biết luật lệ, tập quán và kinh nghiệm thương trường EU có thể gặp khó khăn.
Hàng hóa và dịch vụ từ Việt Nam vào Ðông Âu trước đây không bị đòi hỏi quá cao về chất lượng, không bị những loại hàng rào phi thuế nghiêm ngặt, như tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn đối với người sử dụng, hoặc phải bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn lao động,... Nhưng, sau ngày 1-5-2004, những loại rào cản như vậy được thống nhất áp dụng trong toàn khối EU mở rộng. Hơn nữa, một số loại nông sản, nhất là nông sản chế biến, sẽ vấp phải hàng rào bảo hộ của EU cao hơn vào các nước CEEC, tức là mức thuế quan không giảm như đối với hàng công nghiệp, có loại còn cao hơn như đối với sản phẩm sữa, thịt gia súc, gia cầm,... Một số loại hàng hóa của Việt Nam vào Ðông Âu trước đây không bị hạn ngạch thì nay bị áp dụng hạn ngạch như hàng dệt may, hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan cao như gạo, đường... Trong một cơ chế thị trường mở, áp lực cạnh tranh khốc liệt hơn, đòi hỏi chất lượng hàng hóa và giá cả phải có tính cạnh tranh cao hơn.
Việt Nam sẽ kém lợi thế hơn trong việc thu hút vốn ODA và vốn FDI từ EU do các nhà đầu tư EU sẽ tập trung đầu tư hơn vào các nước Thành viên EU mới, vừa gần về khoảng cách địa lý vừa có hệ thống luật lệ và cơ chế kinh tế ổn định thống nhất. Trong những năm 1995 - 1999 và nhất là sau năm 2000, các nước Trung và Ðông Âu đã trở thành những nước có tỷ lệ FDI trên GDP là cao nhất trong số các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi (bằng khoảng 4 - 6% GDP, trung bình là 5,5% GDP).
Trong số các nước đầu tư chính vào CEEC, EU15 chiếm tới hơn 50% dòng vốn FDI vào khu vực này. Theo đánh giá của các công ty đa quốc gia thì Ba Lan hiện là nước hấp dẫn FDI nhất, mức độ hấp dẫn đầu tư của Ba Lan được đánh giá là 33%, cao hơn cả Hoa Kỳ và Trung Quốc cùng là 27%. Trong số các nước có sức hấp dẫn đầu tư thuộc CEEC còn có Hung-ga-ri: 20% và Séc: 18%; trong khi chỉ số này của Việt Nam chỉ là 5%. UNDP cũng đánh giá Việt Nam là nước nằm trong nhóm có tiềm năng thu hút đầu tư thấp, đứng thứ 70 trong 140 nước. Việc gia nhập EU sẽ càng đem lại cho các nước thành viên tương lai của EU một môi trường đầu tư an toàn và ổn định hơn, chắc chắn sẽ thu hút đầu tư được nhiều hơn. Nguyên nhân các nước Ðông Âu thu hút được FDI ổn định và ngày càng tăng, có thể đánh giá một phần là do chính sách tư nhân hóa ở khu vực này, phần là chi phí lao động tương đối thấp cùng với việc mở rộng cửa hơn cho đầu tư nước ngoài. Ðó là chưa kể tới việc EU mở rộng trở thành một thị trường thống nhất sẽ tăng sức cạnh tranh thu hút đầu tư từ các khu vực khác của thế giới. Như vậy, Việt Nam và nhiều nước đang phát triển sẽ bị hạn chế nguồn FDI không chỉ từ EU mà còn từ khu vực khác trên thế giới.
Sức ép đàm phán và sức ép cạnh tranh của EU25 về lĩnh vực dịch vụ trong khuôn khổ WTO có thể sẽ lớn hơn EU15, nhất là trong bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực này còn non yếu. Ðiều này hoàn toàn dễ hiểu vì EU là một trong hai thực thể lớn nhất và có ảnh hưởng nhiều nhất trong WTO. Hiện Ủy ban châu Âu rất quan tâm và yêu cầu Việt Nam mở rộng cửa thị trường các dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, hàng không, vận tải biển cho các doanh nghiệp EU tiếp cận, kinh doanh bình đẳng.