1. Thực trạng…
Trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, nhìn theo chiều dài lịch sử, mỗi thể loại đều đã từng có đời sống xã hội riêng của nó. Bước sang thế kỷ XXI, kể như chúng ta đã trải qua gần 50 năm phát triển văn hóa nghệ thuật dân tộc với phương châm khoa học hóa, hiện đại hóa để hội nhập với thời đại. Và, đã đến lúc cần nhìn lại toàn cảnh nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.
Với tư cách những người làm công tác nghiên cứu âm nhạc dân tộc, hơn ai hết, chúng tôi luôn phải đối mặt với những thực trạng mà người ngoài nghề không thể biết. Bởi vậy những gì sắp trình bày chắc hẳn sẽ làm nhiều người không hài lòng. Dù rằng đó mới chỉ là một phần trong những sự thật mà chúng tôi có thể nói.
Vào thời điểm hiện nay, có thể khẳng định rằng so với cách đây phân nửa thế kỷ, chúng ta đã để thất truyền vô số giá trị cổ nhạc Việt Nam. Đại đa số các thể loại đều đang rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Vốn liếng ngày một cạn kiệt bởi nhiều tinh hoa cổ truyền nước Việt đã ra đi không trở lại theo các nghệ nhân về cõi vĩnh hằng. Tầng lớp khán giả ngày càng thưa thớt, nhiều khi chỉ thu hẹp trong giới những người làm nghề.
Hơn 10 năm nay, trên công luận bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều những tiếng kêu cứu cho các giá trị cổ nhạc nước Việt. Có lẽ chưa bao giờ người ta nhắc nhiều đến vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc như hiện nay. Dù không nói ra, song nhiều nhà hoạt động văn hóa nghệ thuật cũng hiểu rằng có lẽ chúng ta đã phạm một sai lầm nào đó trên chặng đường đã qua.
Trong phân nửa thế kỷ, các thế hệ trẻ nối tiếp đều được giáo dục một cách vô tình hay hữu ý rằng "cổ nhạc là lạc hậu, là phong kiến lỗi thời, trong thời đại mới cần phải cải biên, cải tiến, phát triển cho phù hợp", rồi "thời đại mới, con người mới thì cần phải có hình thức nghệ thuật mới"...
Bởi thế, trải theo thời gian, hành trang "hiện đại" của họ là gì, chắc hẳn ai cũng rõ. Có thể cô đặc thành một đẳng thức Tây phương = hiện đại. Thậm chí ngay cả các giá trị nghệ thuật cổ truyền Tây phương cũng được coi là "thời đại, hiện đại".
Có thể đưa ra vô vàn ví dụ, từ hệ thống giáo dục trên tầm vĩ mô cho đến nhạc hiệu các chương trình phát thanh truyền hình hay nhạc hiệu điện thoại 1080…v.v...
Trên mọi phương diện của văn hóa nghệ thuật, các giá trị truyền thống Tây phương tràn ngập và lấn lướt (thậm chí đè bẹp) các giá trị truyền thống dân tộc. Đây đó, xuất hiện rất nhiều hiện tượng mà các nhà chuyên môn buộc phải gọi là “suy thoái” của một số thành tựu văn hóa dân tộc.
Thực trạng này khiến cho những ai có tấm lòng với cổ nhạc Việt Nam đều không khỏi đau lòng. Trong bối cảnh đó, nhiều thể loại cũng không tránh khỏi sự mất mát của riêng mình. Trong đó có những thể loại mà sự tồn tại hiện nay chỉ còn là những mảnh vỡ.
Sự lưu truyền các giá trị truyền thống ở thế hệ tiếp nối được đánh giá là suy giảm cả về chất và lượng. Ca trù là một trong số đó.
Với trữ lượng gần 20 làn điệu đã từng được ghi nhận trong quá khứ, hiện nay vốn liếng loại hình nghệ thuật này chỉ còn khoảng dăm bảy làn điệu. Kèm theo đó là sự thất truyền nhiều giá trị tinh túy trong kỹ thuật của nhạc đàn và nhạc hát.
Hát Xẩm cũng vậy, chúng ta chỉ còn bà Hà Thị Cầu là nghệ nhân cuối cùng với vốn liếng không nhiều trong bóng tuổi chiều tà. Nhiều nghệ sĩ tìm đến học bà cũng chỉ xin vài làn điệu gọi là "thêm vào" hành trang nghệ thuật "tổng hợp" của họ, những nghệ sĩ kiểu "biết mỗi thứ một tí"!
Sự đứt đoạn truyền thống tương tự cũng diễn ra cả trong ngành Chèo và Tuồng. Đây là điều đáng chú ý hơn cả bởi hai thể loại này đã được thể chế hóa với sự đầu tư một cách có hệ thống của Nhà nước ngay từ cuối thập niên thứ 5 của thế kỷ XX. Vậy mà tình hình cũng không hơn gì các thể loại trôi nổi trong nhân gian như Ca trù, Hát Xẩm...
Chẳng hạn nhiều nghệ sĩ Tuồng bây giờ không biết đọc bản cổ nhạc theo hệ thống Hò - Xự - Xang.., họ chỉ biết (và thích) hệ thống đô - rê - mi... Phong cách nghệ thuật Tuồng Bắc (vốn được coi là cổ hơn Tuồng Nam) đã tan vỡ, chỉ còn lại vài mảnh vụn. Hàng trăm vở Tuồng cổ với nhiều dạng thức khác nhau (đặc biệt là những vở Tuồng pho diễn cả tháng trời mới hết) dường như đã ra đi không trở lại.
Mặc dầu chúng ta có nhà hát Tuồng song suốt mấy chục năm qua cũng chẳng tiếp cận được kho tàng đồ sộ đó. Nghệ nhân Xuân Vượng - một thầy đàn hàng đầu ngành Tuồng cho chúng tôi biết rằng hiện nay nếu dốc toàn tâm toàn lực thì họ cũng chỉ phục hưng được khoảng 10% vốn liếng Tuồng cổ truyền. Một gia sản nghệ thuật đã từng tồn tại cho đến cuối những năm 50 với thế hệ lớp nghệ nhân lão thành danh tiếng như Lê Văn Lập, Hoàng Hiệp Tắc, Vũ Văn An, Nguyễn Ba Tuyên, Đoàn Thị Ngà, Nguyễn Đắc Nhã v.v… như đang dần dà mai một.
Thực trạng tương tự cũng diễn ra bên ngành Chèo. Các nghệ sĩ Chèo bây giờ hầu như không thuộc hết hệ thống các làn điệu Chèo cổ... Và, tệ hơn nữa là có nhiều nghệ sĩ trong biên chế đoàn Chèo mà hát Chèo không ra Chèo nhưng vẫn “hữu dụng” vì có nhan sắc và có khả năng diễn xuất.
Khán giả thường không biết rằng khi những diễn viên đó biểu diễn, luôn có những người hát thay họ ở hậu trường (người trong nghề thường gọi là "kỹ thuật hát đớp")!
Bên cạnh đó, nhiều giọng hát lạc điệu so với cổ truyền nhưng dần dà lại được công nhận là "mới", "là xu thế phát triển tất yếu của thời đại". Chẳng hạn kỹ thuật rung giọng thì "như Tây", kỹ thuật nảy hạt thì "qua quýt" cho xong chuyện. Các làn điệu thường được hát nhanh hơn nhiều so với cổ truyền. Họ thường biện hộ rằng "thời đại mới thì phải có tiết tấu mới".
Thật ra, theo điều tra thì trên thực tế, hát chậm rất khó bởi khi đó người hát phải có thực tài với sự thể hiện điêu luyện những kỹ thuật láy, nảy, rung, ngắt, nhả chữ... của kỹ thuật thanh nhạc cổ truyền.
Thế nhưng trong "thời đại ngày nay", sự thẩm định nghệ thuật lại thuộc loại "chuẩn mực" khác - cái chuẩn mực như "hơi thở thời đại" (câu cửa miệng của rất nhiều người trong chúng ta). Dần dà, với sự có mặt thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, các "chuẩn mực mới" đó nghiễm nhiên được công nhận vì chẳng có ai phán xét gì. Hoặc có nói thì cũng chẳng ai hay bởi lớp nghệ sĩ đầu đàn với tài năng như những nghệ nhân cổ nhạc thực thụ bây giờ chỉ đếm được trên đầu ngón tay, Tuồng hay Chèo cũng đều thế cả! Theo thời gian, với cơ chế "đến hẹn, về hưu", sự cổ kính mẫu mực của lớp nghệ sĩ "vang bóng một thời" cũng dần bị quên lãng. Dù họ có sẵn lòng truyền dạy cho lớp trẻ song lực bất tòng tâm.
Những nghệ sĩ đầu đàn ngành Chèo hiện nay như Quý Bôn (Hà Nội) hay Thế Tuyền (Nam Định)... đều than phiền với tôi rằng lớp trẻ bây giờ không thể hát được như họ, phần vì ngại khó, phần vì không trọng thị lối hát cổ kính mẫu mực. Cái lối hát mà các cụ thường gọi là "tận thổ can tràng". Không muốn học, lớp trẻ bảo là hát như thế vừa khó mà lại chẳng ai nghe (!) Đó quả là một tiếng chuông buồn! Thậm chí có nghệ sĩ đầu đàn của Nhà hát Chèo Hà Nội còn nói với đại ý là thời đại ngày nay mà cứ hát lối í ì i cổ lỗ của các cụ nghe sốt ruột lắm (!)
Thế đấy! Các giá trị kinh điển đã bị thất truyền khá nhiều. Sự thiếu tôn trọng cổ truyền ám ảnh và bắt rễ sâu một cách vô thức ngay cả trong giới những người làm nghề. Như thế, trữ lượng nghệ thuật cổ truyền còn lại vốn không nhiều sẽ tiếp tục bị mai một.
Theo các nhà nghiên cứu Chèo, vào thời điểm cuối những năm 50, khi những nghệ nhân Chèo nổi tiếng được quy tụ lại thì gia sản của nghệ thuật Chèo cổ lúc đó có khoảng 50 vở diễn mẫu mực với khoảng 170 làn điệu.
Vậy mà trong phân nửa thế kỷ qua, công chúng chỉ được biết đến có vài vở Chèo cổ hay thậm chí chỉ vài trích đoạn trong đó. Mà tất cả ít nhiều đều đã “được chỉnh lý, cải biên”. Điều trớ trêu là các tác phẩm bị "cải biên" đó mặc nhiên được công nhận là "cổ truyền đích thực" trong thời hiện tại.
Có lẽ nhiều nhà nghiên cứu đành phải chấp nhận thưởng thức, nghiên cứu những "di sản cải tiến" đó bởi trên thực tế chúng ta không còn gì cổ hơn thế!
Thậm chí có những sự "cải biên" đến mức khó tin. Đó là trường hợp trích đoạn Súy Vân giả dại. Trong đó diễn viên trình diễn theo lối mới cố gắng vật lộn gào thét điên dại như thật đến mức không bao giờ hát tốt được nữa vì bị hỏng giọng (!)
Trả lời phỏng vấn trên truyền hình, một nghệ sĩ nổi tiếng đã thừa nhận rằng vì vai Súy Vân mà chị mất giọng Chèo nên luôn phải có người hát hộ (?)
Chắc hẳn đại đa số trong chúng ta chưa ai từng một lần biết đến gia sản nghệ thuật Chèo cho đến cuối những năm 50. Ngày nay, theo điều tra sơ bộ, mặc dù chúng ta có tới hai chục đoàn Chèo song các đoàn không còn khả năng phục hồi toàn bộ những gì mà thế hệ lớp nghệ nhân lão thành Trùm Thịnh, Cả Tam, Năm Ngũ, Lý Mầm, Hề Phẩm, Kép Tích... từng lưu giữ!
Đây cũng là hiện trạng chung của nhiều bộ môn khác trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.
Còn rất nhiều thực trạng đáng báo động như vậy mà chúng tôi không thể nêu hết. Nếu mở một cuộc tổng kiểm kê toàn bộ di sản nghệ thuật cổ nhạc trong thời hiện tại, chắc chắn chúng ta sẽ còn choáng váng nhiều hơn nữa trước những sự thật đau lòng. Nó xứng đáng trở thành một đề tài cấp Nhà nước.
(Còn nữa)